TPP có 5 đặc điểm chính mang tính bước ngoặc của thế kỷ 21, tạo ra một tiêu chuẩn mới cho thương mại toàn cầu trong khi vẫn đề cập tới các vấn đề mang tính thế hệ mới. Đó là:


  • Tiếp cận thị trường một cách toàn diện: Hiệp định TPP cắt giảm thuế quan đối với hầu hết hàng hóa và dịch vụ, cùng với điều chỉnh toàn bộ các lĩnh vực về thương mại, giúp tạo ra các cơ hội và lợi ích mới cho doanh nghiệp, người lao động và người tiêu dùng của các nước thành viên.

  • Tiếp cận mang tính khu vực trong việc đưa ra các cam kết: Hiệp định TPP tạo thuận lợi cho việc phát triển sản xuất và dây chuyền cung ứng, đẩy mạnh tính hiệu quả và hỗ trợ thực hiện mục tiêu về tạo việc làm, nâng cao mức sống, thúc đẩy các nỗ lực bảo tồn và tạo thuận lợi cho việc hội nhập qua biên giới cũng như mở cửa thị trường trong nước.

  • Giải quyết các thách thức mới đối với thương mại: Hiệp định TPP thúc đẩy việc đổi mới , cải tạo năng suất và tính cạnh tranh thông qua việc giải quyết các vấn đề như thay đổi mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế của quốc gia theo hướng phù hợp nhất.

  • Bao hàm toàn bộ các yếu tố liên quan đến thương mại: Hiệp định TPP đưa ra yếu tố mới nhằm mục tiêu bảo đảm rằng các nền kinh tế ở tất cả các cấp độ phát triển thuộc mọi quốc gia thành viên đều có thể hưởng lợi từ thương mại. 

  • Tạo nền tảng cho hội nhập khu vực xuyên Châu Á - Thái Bình Dương
Chùm ảnh Infographic về TPP và những thỏa thuận đạt được







Bài đọc thêm:
>> Tóm Tắt Nội Dung Hiệp Định TPP (Phần 1)
>> Tóm Tắt Nội Dung Hiệp Định TPP (Phần 2)
>> Toàn Văn 30 Chương Của Hiệp Định TPP
Thuế xuất nhập khẩu thanh long, nhãn, hạt điều của VN vào Peru sẽ lập tức về 0% ngay sau khi hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) có hiệu lực so với mức 9% hiện nay.

Sản phẩm TPP hưởng lợi rất nhiều về thuế nhập khẩu


Ông Luis Tsuboyama, đại diện Đại sứ quán Peru tại VN cho biết như vậy tại Diễn đàn xuất khẩu 2015 tổ chức sáng 17-11.

Theo ông Luis Tsuboyama, các mặt hàng hoa quả trên của VN muốn vào Peru phải đáp ứng được quy định trong Hiệp định vệ sinh và kiểm dịch thực vật (SPS) mới của Peru, dự kiến hoàn thành vào năm tới, sẽ có cơ hội lớn để xuất khẩu sang thị trường này.

Theo thống kê, 10 sản phẩm chủ lực từ VN xuất sang Peru như điện thoại cho mạng không dây, một số thiết bị máy móc… hầu hết cũng đang được hưởng thuế 0%.

Riêng với nhóm giày dép, Peru chỉ áp dụng thuế 0% đối với nhóm giày thể thao, nhóm còn lại vẫn áp thuế 17%, tuy nhiên sẽ giảm theo lộ trình trong vòng 16 năm theo cam kết TPP.

Ông Luis Tsuboyama cũng cho biết tham gia hiệp định TPP, một trong những lợi ích quan trọng của Peru là tiếp cận 5 thị trường mới, trong đó có VN.

Theo đó, VN sẽ loại bỏ 66% dòng thuế tương đương với 98% xuất khẩu của Peru tới thị trường Việt Nam, riêng cá hồi, cá thu, cá ngừ, cá cơm đông lạnh, dầu cá sẽ được miễn thuế ngay sau khi TPP có hiệu lực.

Ngược lại, Peru cam kết xóa bỏ tới 80,7% số dòng thuế ngay khi hiệp định có hiệu lực, tương đương 62,1% kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam và xóa bỏ thuế quan đối với 99,4% tổng số dòng thuế vào năm thứ 17.

Ngoài ra, các công ty Việt Nam còn có cơ hội thâm nhập tốt hơn trong lĩnh vực mua sắm công của Peru về hàng hóa, dịch vụ, xây dựng.

“Điều quan trọng doanh nghiệp VN không nên xem Peru là điểm cuối khi đưa hàng hóa sang đây mà là cửa ngỏ để hàng hóa vào thị trường châu Mỹ Latin”, ông Luis Tsuboyama nhấn mạnh.

Trong 12 nước tham gia đàm phán TPP có 3 nước thuộc khu vực Mỹ Latinh là Chile, Peru, Mexico.

Nguồn: CafeF
Hội nhập TPP đem lại nhiều thuận lợi cho xuất khẩu Gạo và đồng thời cũng mang đến rất nhiều sức ép cạnh tranh cho Việt Nam, để có thể tồn tại và đứng vững trên thương trường TPP, Việt Nam cần phải thay đổi từ khâu chọn giống, sản xuất cho đến việc xây dựng thương hiệu cho hạt gạo...

>> Nền Sản Xuất Việt Nam Phải Đối Mặt Với Quá Nhiều Thách Thức


Dù khẳng định hạt gạo VN có nhiều lợi thế hơn các đối thủ khi xuất sang các quốc gia thành viên TPP, nhưng nhiều chuyên gia cho rằng nếu muốn tận dụng được cơ hội, VN phải thay đổi từ khâu chọn giống, sản xuất cho đến việc xây dựng thương hiệu cho hạt gạo.

Trong các thành viên tham gia TPP, trừ Nhật không cam kết trong khi Mexico và Chile sẽ xóa thuế theo lộ trình 8-10 năm, tám quốc gia còn lại đều sẽ xóa thuế ngay cho gạo VN sau khi hiệp định này có hiệu lực. Theo các chuyên gia, đã đến lúc VN cần bắt tay xây dựng thương hiệu gạo một cách bài bản và khoa học để có thể tận dụng được cơ hội này.

Thiếu thương hiệu, mất cơ hội

Theo GS.TS Võ Tòng Xuân, tại các hội chợ lương thực quốc tế ở Thái Lan những năm qua, gạo VN không dám xuất đầu lộ diện mà chỉ có gạo Thái Lan, gạo Campuchia và các nước khác. “Nhắc tới gạo Thái Lan, ai cũng biết Khao Dawk Mali và Hom Mali, Campuchia có gạo Romduol, Myanmar có Paw San và Ấn Độ là gạo Basmati, nhưng chẳng ai biết gạo thơm VN là gì” - ông Xuân nói.

Theo ông Xuân, do không có thương hiệu, gạo Việt đã gặp rất nhiều khó khăn trong cạnh tranh tại các thị trường xuất khẩu thời gian qua, chứ chưa nói đến việc tận dụng từ cơ hội do TPP mang lại.

Trong khi đó, GS.TS Võ Tòng Xuân cho biết tại ngân hàng giống lúa thuộc Trường ĐH Cần Thơ hiện đang lưu giữ tới 1.468 giống lúa vùng Tây Nam bộ, vốn nổi tiếng thơm ngon như: Nàng Thơm Chợ Đào, Nàng Hương, Châu Hạng Võ..., chưa kể một số giống lúa cao sản cũng thơm ngon không kém như: Jasmine 85, ST, Nàng Hoa 9...

“VN có rất nhiều giống lúa tốt, cho gạo thơm ngon nhưng tại sao bị Campuchia qua mặt dễ như vậy dù trình độ sản xuất của họ lạc hậu hơn?” - ông Xuân đặt câu hỏi.

Theo ông Xuân, nguyên nhân là do nông dân chỉ thích trồng giống lúa nào cho năng suất thật cao mà ít quan tâm đến chất lượng thơm ngon, trong khi nông dân các nước trong khu vực chỉ thích trồng giống lúa thơm ngon.

Đặc biệt, theo ông Xuân, chuyện làm ăn chụp giật, trộn gạo thường với gạo thơm để bán ngày càng trầm trọng, gây ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu gạo VN. “Kiểu làm ăn đó góp phần làm cho gạo VN bị mang tiếng xấu khắp thế giới. Nói đến gạo VN, người ta nói thẳng đó là gạo trộn. Quá xấu hổ!” - ông Xuân nói.

Ông Phạm Văn Dư, phó cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT), bức xúc cho biết gạo thơm Jasmine 85 hiện được xuất khẩu với tỉ trọng rất lớn, nhưng nhiều doanh nghiệp (DN) lại đem gạo này trộn với một số loại gạo khác thơm nhẹ hơn, giá rẻ hơn để xuất. Có DN trộn theo yêu cầu của khách hàng, có DN tự ý trộn để phá giá.

“Chỉ riêng giống Jasmine 85, VN đã có tới 13 dòng với chất lượng khác nhau mà DN còn đem trộn với gạo khác nữa thì làm sao đảm bảo chất lượng. Người tiêu dùng nước ngoài ăn và đánh giá không tốt về gạo thơm VN. Hậu quả là cả ngành sản xuất, xuất khẩu lúa gạo VN bị vạ lây. Tôi rất buồn về điều này” - ông Dư tâm tư.

Làm thương hiệu từ khâu... chọn giống

Theo ông Dư, để nâng cao giá trị xuất khẩu của gạo Việt, tận dụng được các cơ hội do TPP mang lại, không còn cách nào khác là phải xây dựng thương hiệu cho gạo Việt và phải bắt đầu từ gốc, đó là chọn giống phù hợp. Dù ĐBSCL là vựa lúa của cả nước nhưng vừa có vùng đất phù sa, vừa có vùng bị nhiễm mặn nên không thể trồng cùng một giống được.

Căn cứ nhu cầu của thị trường thế giới và điều kiện canh tác, ông Dư cho rằng chỉ nên canh tác 4 nhóm giống gồm: lúa thơm đặc sản vùng bị nhiễm mặn; lúa thơm ở vùng đất phù sa; lúa hữu cơ, lúa dược liệu; cuối cùng là lúa hạt dài chất lượng cao.

Đối với vùng đất nhiễm mặn, theo ông Dư, giống lúa thơm ST rất thích hợp, năng suất cao, gạo được một số thị trường chấp nhận... Với vùng đất phù sa nước ngọt quanh năm, giống Jasmine 85 là một lựa chọn.

Ngoài ra, giống Nàng Hoa 9 cho chất lượng không thua kém gạo Khao Dawk Mali của Thái Lan, đang được nông dân các tỉnh ĐBSCL sản xuất với diện tích rất lớn. Nhóm gạo hữu cơ, gạo dược liệu dù giá rất cao nhưng không thể sản xuất đại trà nên các DN cần có chiến lược riêng.

Cùng quan điểm, ông Võ Tòng Xuân cho rằng Nhà nước cần tổ chức bình tuyển các giống lúa ở từng vùng để chọn ra loại ngon nhất. Chẳng hạn, trong hơn 20 dòng của giống ST đặc sản sẽ tìm ra dòng tốt nhất để sản xuất giống siêu nguyên chủng, nguyên chủng, xác nhận cung cấp cho nông dân. Khi đã chọn được giống,

DN phải ký hợp đồng với HTX, cung cấp giống cho nông dân sản xuất theo tiêu chuẩn GAP (an toàn, chất lượng và truy nguyên được nguồn gốc).

Theo ông Xuân, mỗi cánh đồng vài trăm hecta chỉ làm một giống. DN phải cử kỹ sư nông nghiệp theo suốt quá trình sản xuất, đảm bảo sản phẩm đầu vào cho đến đầu ra là gạo đóng gói xuất khẩu đồng nhất về chủng loại và chất lượng, không có gạo khác lẫn vào. Có được sản phẩm chất lượng, DN yên tâm đăng ký nhãn hiệu, quảng bá, tiếp thị ra nước ngoài. Với quy trình này, DN nào làm ăn gian dối sẽ tự bị đào thải.

“Có thể một giống lúa sẽ được đăng ký nhiều nhãn hiệu khác nhau, nhưng tất cả khi xuất ra nước ngoài chất lượng giống nhau và luôn ổn định như vậy thì thế giới sẽ biết gạo VN là gạo gì. Đó chính là thương hiệu gạo Việt”.

Ông Lâm Anh Tuấn - giám đốc Công ty lương thực Thịnh Phát, Bến Tre - cho rằng Bộ NN&PTNT cần phối hợp với các nhà khoa học để chọn được giống lúa ngon nhất và chỉ ra vùng nào trồng giống gì.

DN căn cứ vào nhu cầu thị trường của mình ký hợp đồng với HTX, nông dân sản xuất loại giống xác nhận do cơ quan thẩm quyền cung cấp.

“Nhà nước cũng cần có “hàng rào kỹ thuật”, kiểm nghiệm chất lượng nghiêm ngặt trước khi cho DN xuất khẩu, nếu lô hàng đó không đạt thì không cho xuất để bảo vệ DN và lấy lại uy tín cho gạo VN” - ông Tuấn đề xuất.

Ông Huỳnh Thế Năng (chủ tịch Hiệp hội Lương thực VN):
Phải từ bỏ thói quen sản xuất nhỏ

Việc xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu “gạo Việt” cần có sự phối hợp của tất cả những bên có liên quan gồm: DN, chính quyền địa phương, Nhà nước và nông dân.

Theo đó, DN chủ động chọn sản phẩm để xây dựng nhãn hiệu cho mình trước khi quảng bá, tiếp thị đến người tiêu dùng trong và ngoài nước. Nếu sản phẩm đó có chất lượng ổn định, giá cả cạnh tranh, sản lượng lớn đáp ứng nhu cầu của thị trường thì mới xây dựng thương hiệu.

Chính quyền địa phương cũng phải cùng DN tổ chức lại sản xuất và hỗ trợ các dịch vụ hậu cần thiết yếu. Nhà nước đầu tư xây dựng các phòng xét nghiệm, kiểm nghiệm gạo cho kết quả nhanh, chính xác. Nông dân cũng phải từ bỏ thói quen sản xuất nhỏ mà tham gia HTX để DN có điều kiện liên kết sản xuất lớn.
Ông Lê Hùng Lân 
(giám đốc Công ty hạt giống Hoa Tiên, TP.HCM) 
Nên làm từ giống lúa thuần Việt 
Muốn xây dựng thương hiệu “gạo Việt” phải lấy giống lúa thuần Việt, không nên lấy giống của nước khác rồi gán cho nó cái tên Việt.
Chẳng hạn, giống Jasmine 85 do một nhà khoa học người Mỹ (Hank Beachell) lai tạo từ giống Khao Dawk Mali của Thái Lan với IR262 tại Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), nên nếu chúng ta lấy giống này xây dựng thương hiệu “gạo Việt” có thể gặp rắc rối về bản quyền giống.
Vả lại, nói là gạo Việt mà thực chất là giống lúa của Mỹ thì không hay lắm. VN không thiếu giống lúa thơm ngon hơn cả Jasmine 85 và ngang ngửa với Khao Dawk Mali thì tại sao phải lấy Jasmine 85 đại diện cho mình chứ?
Gạo là một trong những mặt hàng Nhật Bản không xóa bỏ thuế quan ngay khi hiệp định TPP có hiệu lực mà sẽ xóa theo lộ trình. 




Trong buổi họp báo chuyên đề về cam kết TPP trong lĩnh vực tài chính do Bộ Tài chính tổ chức chiều ngày 9/11, ông Vũ Nhữ Thăng, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tài chính cho biết, Nhật Bản cam kết xóa bỏ ngay thuế nhập khẩu đối với 86% số dòng thuế.

Theo lộ trình, vào năm thứ 11 kể từ khi hiệp định có hiệu lực, Nhật Bản sẽ xóa bỏ đối với khoảng 95,6% số dòng thuế.

Tuy nhiên, với các mặt hàng nông sản từ Việt Nam như gạo, thịt, sữa thì những ưu đãi về thuế quan không thực sự lớn.

Ngoài việc không cam kết với mặt hàng gạo, Nhật Bản sẽ áp dụng hạn ngạch thuế quan hoặc cắt giảm một phần hoặc cam kết kèm theo các biện pháp phòng vệ thương mại đối với một số mặt hàng nhạy cảm như thịt trâu bò, thịt lợn, sữa, sản phẩm sữa, lúa mỳ, lúa gạo và các chế phẩm của chúng.

Ngược lại, với ngành thủy sản, khi TPP có hiệu lực, đa số mặt hàng có thế mạnh của Việt Nam được hưởng ngay thuế suất 0% như các mặt hàng cá ngừ vây vàng, cá ngừ sọc dưa, cá kiếm, một số cam kết, surimi, tôm, cua ghẹ,…

Như vậy, toàn bộ các dòng hàng thủy sản không cam kết xóa bỏ thuế trong FTA Việt Nam – Nhật Bản sẽ được xóa bỏ trong TPP với lộ trình xóa bỏ vào năm thứ 6, năm thứ 11 hoặc năm thứ 16 kể từ khi hiệp định có hiệu lực.

Ngoài ra, Nhật Bản cam kết mức thuế 0% với mặt hàng rau quả vào năm thứ 3 hoặc năm thứ 5 kể từ khi hiệp định có hiệu lực.

Vào năm thứ 8 sau khi TPP chính thức có hiệu lực, mặt hàng mật ong được Nhật cam kết xóa bỏ thuế.

Quốc gia này cũng sẽ xóa bỏ thuế của 79,5% kim ngạch mặt hàng giày dép vào năm thứ 10 và các mặt hàng còn lại của ngành giày da vào năm thứ 16. Tương tự thế, mặt hàng vali, túi xách bằng da cũng được xóa bỏ thuế suất vào năm thứ 16.

Xóa bỏ ngay 98,8% số dòng thuế của ngành dệt may. Con số này tương đương 97,2% kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam sang Nhật Bản.

Những mặt hàng còn lại Nhật Bản sẽ có lộ trình xóa bỏ thuế vào năm thứ 10 của hiệp định.

Ông Thăng cũng cho biết, cơ hội hợp tác của Việt Nam với các nước sau khi TPP chính thức có hiệu lực là rất lớn, đặc biệt là với Nhật Bản.

“Trước đó, với hiệp định Việt Nam – Nhật Bản có 1 số mặt hàng vẫn không được mở cửa nhưng khi TPP chính thức được thông qua, các mặt hàng này đều đã được mở cửa hợp tác”, ông Thăng nhấn mạnh.

Theo CafeF

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, XK thủy sản của Việt Nam sang 11 nước thành viên tham gia TPP chiếm trên 45% tổng giá trị XK. Các doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi ngay lập tức khi TPP có hiệu lực với 90% các loại thuế XNK sẽ giảm.



Hiện nay 11 nước thành viên tham gia TPP là: Mỹ, Nhật Bản, Canada, Australia, Singapore, Mexico, Malaysia, New Zealand, Chile, Peru và Brunei đều là những đối tác chiến lược của thủy sản Việt Nam.

Các nước thành viên tham gia TPP sẽ được giảm 90% các loại thuế XNK hàng hóa và cắt giảm bằng 0% năm 2015. Theo đó, khoảng 25 mặt hàng thủy sản chịu thuế xuất khẩu từ 1-10% sẽ trở về 0% ngay lập tức hoặc theo lộ trình kéo dài lâu nhất đến năm thứ 16. Trong đó, có 12 mặt hàng thủy sản sẽ giảm thuế về ngay 0% ngay sau khi TPP có hiệu lực, như: cá ngừ đóng hộp, cá ngừ vây vàng, cá ngừ sọc dưa, cá hồi đỏ, cá tuyết đông lạnh…

Đây là tín hiệu tích cực cho các DN xuất khẩu hải sản, đặc biệt là DN xuất khẩu cá ngừ sang Nhật Bản - thị trường đối tác lớn thứ hai (sau Mỹ) trong 11 nước tham gia TPP bởi trong nhiều năm trước đây thuế suất của Việt Nam đang cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực ASEAN.

Mới đây, theo đúng lộ trình của TPP, Nhật Bản đã bãi bỏ thuế nhập khẩu đối với sản phẩm cá ngừ và cá hồi và mở cửa cho các DN xuất khẩu thuộc các nước thành viên tham gia tích cực hơn vào thị trường này. Dự báo trong năm 2016, giá trị XK cá ngừ sang thị trường Nhật Bản sẽ vượt qua mức tăng trưởng âm và có thể tăng từ 5 đến 15% so với năm nay.

Theo nhận định của các DN, nguồn nguyên liệu hải sản trong nước đang dần bị cạn kiệt, thuế nhập khẩu giảm sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho các DN nhập khẩu cá ngừ, mực, bạch tuộc Việt Nam khi nhập khẩu từ các nước lớn như: Malaysia, Mexico, Peru…

Theo đánh giá của các chuyên gia, nhiều DN xuất khẩu thủy sản Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ TPP, tuy nhiên đó chỉ là một mặt của vấn đề. Để bước ra sân chơi lớn, để nắm được các cơ hội, các DN thủy sản phải nhanh nhạy với thị trường, nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm xuất khẩu để không bị lúng túng trước các rào cản kỹ thuật khắt khe hơn, đồng thời sức cạnh tranh phải cao so với các nước nguồn cung khác cùng tham gia TPP.
TPP không chỉ mang lại sự cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ sang Nhật mà sẽ tác động đến thu nhập của ngư dân khai thác cá ngừ.




Nhật Bản là thị trường xuất khẩu chính của cá ngừ Việt Nam. Nhưng lâu nay, thuế nhập khẩu đối với cá ngừ của Việt Nam sang Nhật Bản khoảng từ 6,4 - 7,2%. Trong khi đó, Thái Lan và Philippines xuất khẩu sản phẩm này sang thị trường Nhật Bản lại có mức thuế 0%.

TPP không chỉ mang lại sự cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ sang Nhật khi thuế suất giảm bằng 0% mà quan trọng hơn sẽ tác động đến thu nhập của ngư dân khai thác cá ngừ. Nhưng một thực tế khác đang khiến cho các nhà quản lý lo lắng. Đó là mỗi năm, các doanh nghiệp chế biến cá ngừ ở Việt Nam lại nhập đến 10.000 tấn nguyên liệu cá ngừ.

Khi TPP có hiệu lực, thuế suất đối với nguyên liệu cá ngừ nhập khẩu đưa xuống bằng 0%. Rất có thể khi đó, cá ngừ các doanh nghiệp nhập khẩu để chế biến lại rẻ hơn so với mua cá ngừ ngư dân khai thác, doanh nghiệp có lợi nhưng ngư dân khó khăn.

Trong năm nay, ở 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa, nơi có 2.800 tàu khai thác cá ngừ đại dương , sản lượng cá ngừ trong thời gian khai thác cao điểm từ tháng 1 đến tháng 6 chỉ đạt khoảng 9.800 tấn. Theo tính toán của ngư dân, với chuyến khai thác có mức tổn phí khoảng 150 triệu đồng và với giá cá 110.000 đồng/kg, để có lãi, lượng cá trong mỗi chuyến biển phải được 1,5 - 2 tấn. Tuy nhiên, rất ít tàu cá đạt được sản lượng này. Đó là chưa nói chất lượng cá ở mức thấp càng làm giảm thu nhập của ngư dân.

Muốn tránh tác động từ TPP, con đường duy nhất là giá bán cá ngừ đại dương của Việt Nam phải mang tính cạnh tranh. Từ hơn 1 năm nay, đề án thí điểm tổ chức khai thác, thu mua, chế biến và tiêu thụ cá ngừ theo chuỗi được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai cũng không ngoài mục đích tăng khả năng cạnh tranh của sản xuất cá ngừ. Thực tế cho thấy: chỉ khi tổ chức sản xuất theo chuỗi, sản phẩm cá ngừ Việt Nam mới có được khả năng cạnh tranh, biến những thách thức thành lợi thế khi tham gia TPP .
Bộ trưởng NN&PTNT Cao Đức Phát cho rằng khi Việt Nam tham gia TPP, lo ngại nhất là lĩnh vực chăn nuôi và Bộ đang tìm những hướng đi phù hợp để hỗ trợ nông dân, tháo gỡ những khó khăn…



Có những thế mạnh riêng để hội nhập


Nông nghiệp được đánh giá là lĩnh vực sẽ gặp nhiều thách thức nhất của Việt Nam khi tham gia TPP. Bộ NN&PTNT đã chuẩn bị thế nào để đối phó, thưa ông?

Bản thân tôi rất chia sẻ lo ngại với các chuyên gia và bà con nông dân. Nông nghiệp nước ta vốn là nền nông nghiệp dựa trên các hộ sản xuất nhỏ lẻ vì thế rất dễ bị tổn thương trước những biến động của thị trường. Trong điều kiện hội nhập, giảm thuế, tự do hóa thương mại thì hàng hóa của các nước với giá rẻ có thể xâm nhập vào thị trường nước ta, ảnh hưởng đến thu nhập vốn đã rất nhỏ của người nông dân. Tuy nhiên, sự lo ngại chính đáng đó có thể chỉ đúng với một số trường hợp.

Bởi TPP còn mở ra cơ hội xuất khẩu, môi trường cạnh tranh lành mạnh với những mặt hàng đang là thế mạnh của Việt Nam. Những mặt hàng này đã quen với cạnh tranh, có khả năng sản xuất hiệu quả cao hơn so với các nước khác. Ví dụ như lúa gạo, có thể cạnh tranh có hiệu quả với các nước trong TPP như: Nhật, Canada, Mê-xi-cô… Trong TPP cũng chỉ có Mê-xi-cô là có sản xuất cà phê, rõ ràng nếu tái cơ cấu ngành cà phê tốt, hoàn toàn có thể cạnh tranh được.

Tuy nhiên đối với lĩnh vực chăn nuôi thì khó khăn hơn rất nhiều, trong thời gian còn 10 năm để chuẩn bị chúng ta sẽ làm gì, thưa ông?

Đúng là ngành đáng lo ngại nhất khi hội nhập chính là chăn nuôi. Lĩnh vực chăn nuôi của nước ta chủ yếu dựa vào các hộ gia đình chăn nuôi quy mô nhỏ, trình độ kỹ thuật không cao. Dẫn đến giá thành cao, hiệu quả kém, thiếu tính bền vững. Trước tình hình đó, chúng ta cần bình tĩnh, rà soát, tìm hướng đi phù hợp, phát huy lợi thế về điều kiện khí hậu nhiệt đới, nhân công.

Bên cạnh đó, cần chủ động tiếp thu thành tựu về khoa học kỹ thuật của các nước có nền chăn nuôi tiên tiến. Chính vì thế, thời gian qua Bộ NN&PTNT đã cử các đoàn công tác tới làm việc với những nước có nền chăn nuôi phát triển như: Chăn nuôi heo ở Đan Mạch, chăn nuôi gia cầm ở Mỹ, Thái Lan; mô hình chăn nuôi đại gia súc ở Úc… Làm việc với cộng đồng doanh nghiệp (DN) để kêu gọi đầu tư vào ngành chăn nuôi theo hướng công nghiệp.

Bộ trưởng Cao Đức Phát.

Truy tận gốc chất cấm


Hiện an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) đang là vấn đề nóng, trong khi các chế tài xử lý được cho là chưa đủ sức răn đe?

ATVSTP ảnh hưởng lớn nhất đến niềm tin của người tiêu dùng, cho dù mức độ ô nhiễm có thể chưa phải cao như mọi người cảm nhận.

Trách nhiệm của Bộ NN&PTNT là phải giải tỏa, củng cố niềm tin cho người dân vào nông sản sản xuất trong nước. ATVSTP cũng là điều kiện tiên quyết để đảm bảo giá trị xuất khẩu, tăng thu nhập cho nông dân. Hiện nay, chúng tôi đang chỉ đạo theo hai hướng.

Một mặt vẫn tiếp tục kiểm tra tồn dư trên thức ăn được chế biến sẵn, nhưng đó chỉ là phần ngọn. Hướng quan trọng nữa Bộ NN&PTNT đang chỉ đạo là điều tra, phát hiện đường dây buôn bán, truy đến tận cùng nguồn xuất ra thị trường của chất cấm này để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Cơ quan chức năng của Bộ thực hiện đúng chủ trương: Công bố, công khai danh tính, đơn vị vi phạm cũng như đơn vị làm tốt.

Với quy định xử phạt hành chính hiện nay, chúng tôi sẽ rà soát để có báo cáo với Chính phủ có sự điều chỉnh. Mặt khác, đề nghị cơ quan chức năng xem xét những hành vi vi phạm nghiêm trọng để xử lý theo pháp luật hình sự.

Như ông nói muốn cạnh tranh thì phải thu hút DN đầu tư vào nông nghiệp, vậy cơ chế đột phá nào để thực hiện điều này, thưa ông?

Bộ đã xác định thu hút DN đầu tư vào nông nghiệp là khâu đột phá để thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp. Chính vì thế trong thời gian vừa qua, chúng tôi đã tập trung chỉ đạo các cơ quan thuộc Bộ, rà soát các khâu theo hướng tạo điều kiện thuận lợi nhất để khuyến khích các DN đầu tư vào nông nghiệp: Đơn giản hóa, giảm đến mức tối thiểu thủ tục hành chính, chi phí về công sức, tiền bạc; Thúc đẩy ứng dụng công nghệ tin học; Rà soát các loại phí, lệ phí...

Gần đây nhiều DN lớn trong nước cũng như quốc tế đã đầu tư vào nông nghiệp, điều đó cho thấy môi trường đầu tư nông nghiệp bắt đầu hấp dẫn. Nhưng tôi thấy nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư cần phải tiếp tục cả tầm vĩ mô lẫn kỹ thuật. Ngoài ra, Bộ NN&PTNT sẽ đề xuất những cơ chế mới để khuyến khích sự hợp tác giữa hộ nông dân với DN để giải quyết khó khăn lớn của các DN hiện nay là đất đai. Bởi hầu hết đất đai đã được chia cho nông dân sử dụng ổn định lâu dài, để có đất cho DN cần có những chính sách mới.

Trong giai đoạn thực hiện tái cơ cấu, không thể trông chờ nguồn đầu tư từ ngân sách. Nguồn quan trọng nhất trong tương lai sẽ là đầu tư của nhân dân, các DN, trong đó có DN có vốn nước ngoài (FDI). Ngoài việc chỉ đạo thực hiện đồng bộ các biện pháp về cải thiện môi trường đầu tư, chúng tôi cũng đã soạn thảo, sớm trình Chính phủ Nghị định quy định những chính sách đặc thù để khuyến khích các DN FDI đầu tư vào nông nghiệp.

Cảm ơn ông!