Hiển thị các bài đăng có nhãn xuất khẩu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn xuất khẩu. Hiển thị tất cả bài đăng
TPP - Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương đã được 12 nước thành viên chính thức ký kết vào ngày 4-2-2016 và sẽ có hiệu lực sau 2 năm. Đây là một mô hình mới về hợp tác kinh tế, vừa có tính chất toàn diện, vừa có mức độ cam kết sâu và rộng. 



Đàm phán TPP chính là đàm phán sâu về mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ và các rào cản thương mại. Kể từ số báo này, ĐTTC giới thiệu loạt bài viết của luật sư Nguyễn Văn Lộc, Chủ tịch Hãng luật LP Group, về chủ đề này để bạn đọc, nhà đầu tư và DN có cái nhìn rõ hơn.

Việc tham gia TPP sẽ mở ra cho Việt Nam, các DN trong nước cơ hội lớn cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao kim ngạch xuất khẩu, nhưng đồng thời cũng đặt ra một loạt thách thức mới cho DN Việt. Có thể nói, việc nhận thức rõ được cơ hội và thách thức mà TPP mang đến và tận dụng các cơ hội để hạn chế và vượt qua thử thách sẽ thúc đẩy các DN trong nước nhập cuộc một cách mạnh mẽ, sâu rộng và công bằng hơn.

Những cơ hội cho doanh nghiệp Việt trong thời kỳ hội nhập TPP

Theo Vietnam Report, 91% DN đánh giá tích cực về thay đổi liên quan đến chính sách thuế sau khi Việt Nam ký kết TPP. Đây cũng chính một trong muôn vàn cơ hội TPP gián tiếp mang lại cho các DN Việt Nam.

Thứ nhất, tham gia vào TPP sẽ tạo điều kiện tốt nhất cho xuất khẩu của các DN Việt Nam. Trong TPP có 3 nước áp dụng thuế xuất khẩu là Việt Nam, Malaysia, Canada và 3 nước đều cam kết xóa bỏ thuế xuất khẩu, ngoại trừ các nhóm mặt hàng được bảo lưu. Việt Nam hiện tại đã cam kết xóa bỏ đối với phần lớn các mặt hàng hiện đang có áp dụng thuế xuất khẩu, cơ bản theo lộ trình từ 5 đến 15 năm sau khi TPP có hiệu lực. Riêng về thuế nhập khẩu, Việt Nam đã cam kết xóa bỏ gần 100% số dòng thuế trong Hiệp định TPP, trong đó có 65,8% số dòng thuế có thuế suất 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực.

Thứ hai, TPP có độ mở, độ tự do hóa cao nhất so với các hiệp định đang có, từ khắp các lĩnh vực: không chỉ là về hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ mà còn cả về thương mại điện tử, lao động. Độ mở này sẽ tạo ra cơ hội để các DN Việt Nam tham gia hiệu quả hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, giúp Việt Nam trở thành một trong những địa chỉ hấp dẫn về đầu tư, thu hút nhiều dự án lớn từ các tập đoàn đa quốc gia.

Thứ ba, TPP giúp tạo ra nhiều việc làm, từ đó thu hút một lượng lớn lao động cho các DN, mang lại những lợi ích về tài chính, cải thiện nguồn nhân lực.

Tóm lại, những lợi thế dành cho DN Việt khi TPP có hiệu lực có thể nhìn thấy được ngay như: thị trường mở rộng ra hơn, thuế quan giảm, có những mặt hàng thuế suất bằng 0%, dễ dàng tìm kiếm những thị trường mới. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội lớn thì còn có những thách thức đặt ra.

Và thách thức phải đối mặt

Thứ nhất, tham gia TPP, Việt Nam sẽ phải mở cửa chào đón hàng hóa, dịch vụ của các đối tác tại thị trường trong nước. Điều này đồng nghĩa với việc DN trong nước phải cạnh tranh gay gắt hơn ngay tại sân nhà với DN các nước tham gia TPP. Thuế nhập khẩu và xuất khẩu của đa số mặt hàng trong tương lai sẽ giảm dần về mức 0% và thị trường đầu tư, dịch vụ, thương mại sẽ mở cửa tự do. Do đó, việc các DN Việt phải làm là giải bài toán về cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ trong nước. Hệ quả theo sau thách thức này chính là nguy cơ làm mất đi thị phần nội địa. Thậm chí, các DN trong nước cũng phải cạnh tranh với nhau và bị đào thải nếu không đảm bảo nhu cầu của thị trường. 

Thứ hai, việc áp dụng tiêu chuẩn mới trong TPP sẽ tạo ra rào cản kỹ thuật (kể cả lao động và môi trường) và quyền lợi của nhà đầu tư, thí dụ như chứng chỉ sản phẩm đánh bắt đạt tiêu chuẩn bền vững, tiêu chuẩn xả thải và các yêu cầu đáp ứng về môi trường. Điều này yêu cầu các DN nếu muốn tận dụng cơ hội “vươn tới và tiếp cận” thị trường rộng mở của các nước thì phải am hiểu khi tiếp cận bất cứ thị trường nào, khi đã am hiểu và đáp ứng các tiêu chuẩn tiên quyết đặt ra mới có thể gia nhập sâu vào thị trường nước bạn.

Thứ ba, các quy định về quyền sở hữu trí tuệ hết sức chặt chẽ, đề cập đến tất cả các nội dung, điển hình như quyền tác giả, nhãn hiệu, bằng sáng chế, bí mật kinh doanh, thực thi quyền sở hữu trí tuệ… Đây chính là một trong những thách thức lớn đối với Việt Nam khi gia nhập TPP, bởi Việt Nam đang là một trong những quốc gia vi phạm bản quyền hàng đầu thế giới. Việc các DN nhận thức tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình ngay bây giờ chính là một mấu chốt giúp các DN bảo vệ được chính tài sản của DN khỏi sự xâm phạm của DN khác. Đồng thời còn thu hút được sự quan tâm của nhà đầu tư, vì không có nhà đầu tư nào muốn đầu tư vào một DN đang vướng phải những tranh chấp về sở hữu trí tuệ.

Thứ tư, vấn đề bên trong của nền kinh tế. Hầu hết các DN và bản thân người dân Việt Nam chưa hình thành và bắt kịp thói quen về việc tuân thủ các quy định của pháp luật, còn thờ ơ, đôi khi bảo thủ. Vì vậy, khi tham gia TPP sẽ gặp nhiều bỡ ngỡ, khó khăn về những tiêu chuẩn mới, những yêu cầu mới mà DN Việt chưa sẵn sàng để thay đổi.

Bản thân cơ hội không tự biến thành lợi ích và đôi khi chính thách thức lại làm nên cơ hội. Giữa lý thuyết và thực tế còn phụ thuộc rất nhiều vào việc Việt Nam sẽ tranh thủ khai thác các lợi thế trong TPP và ứng phó với thách thức, khó khăn như thế nào. Đối với các DN, chỉ khi có giải pháp phù hợp thì lợi thế tiềm năng mới trở thành hiện thực và các khó khăn mới có thể giải quyết được. Vì vậy, để biến thách thức thành lợi thế phụ thuộc vào chiến lược của bản thân DN và Nhà nước. 

Theo Luật sư Nguyễn Văn Lộc, Chủ tịch LP Group 
Đầu tư Tài chính
(Sàn thương mại điện tử B2B NOCNDEAL.com) Theo bà Nguyễn Hoàng Thúy, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Australia, cả Việt Nam và Australia đều nằm trong chuỗi giá trị của khu vực châu Á-Thái Bình Dương gồm 12 nước nên khi Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) có hiệu lực sẽ thúc đẩy các hoạt động đầu tư, sản xuất trong chuỗi giá trị này, từ đó thúc đẩy thương mại song phương giữa hai nước.




Bên lề Hội nghị Tham tán Thương mại ​đang diễn ra tại Hà Nội, bà Nguyễn Hoàng Thúy đã có một số trao đổi với phóng viên về những điểm nổi bật trong quan hệ thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Australia, nhất là những lưu ý đối với doanh nghiệp khi Hiệp định TPPcó hiệu lực.

- Là thị trường lớn, mức thu nhập bình quân đầu người cao, nhu cầu nhập khẩu hàng hóa tương đối dồi dào, Australia được đánh giá là một trong những bạn hàng lớn của Việt Nam. Vậy theo bà, khi Hiệp định Đối tác Chiến lược xuyên Thái Bình Dương được ký kết, thương mại 2 chiều giữa hai quốc gia sẽ được kỳ vọng thế nào?

Bà Nguyễn Hoàng Thúy: Hiện Việt Nam và Australia đã trở thành đối tác thương mại quan trọng của nhau, chỉ trong vòng 10 năm (2005-2014) đã tăng gấp đôi và được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ sau khi ký TPP.

Cụ thể, năm 2005 kim ngạch thương mại đạt 3 tỷ USD, đến năm 2014 đã tăng lên 6 tỷ USD. Trong khi Australia là bạn hàng xuất khẩu đứng thứ 8 và bạn hàng nhập khẩu đứng thứ 12 của Việt Nam thì theo chiều ngược lại Việt Nam là bạn hàng đứng thứ 14 của Australia cả về nhập khẩu và xuất khẩu.

Theo Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Australia/New Zealand (AANZFTA), đến năm 2020, Australia và New Zealand sẽ xóa bỏ thuế suất đối với 100% biểu thuế cho hàng xuất khẩu của Việt Nam.

Về thuế suất thì cam kết của Australia trong AANZFTA đã là 100% nên TPP không đem lại lợi ích trực tiếp về thuế quan cho Việt Nam trong quan hệ với Australia nhưng Hiệp định TPP sẽ đem lại nhiều lợi ích khác ngoài thuế, ví dụ, với TPP, cả Việt Nam và Australia đều nằm trong chuỗi giá trị của khu vực châu Á-Thái Bình Dương gồm 12 nước nên sẽ thúc đẩy các hoạt động đầu tư, sản xuất trong chuỗi giá trị này, từ đó thúc đẩy thương mại song phương.

​Không những thế, các quy định về minh bạch hóa, thuận lợi hóa thương mại (như tự chứng nhận xuất xứ), hải quan cũng sẽ tạo thuận lợi, giúp thúc đẩy thương mại song phương Việt Nam-Australia.

​Ngoài ra, các quy định chặt chẽ về quyền sở hữu trí tuệ, đầu tư cũng sẽ giúp thu hút, tăng đầu tư từ Australia vào Việt Nam, từ đó thúc đẩy quan hệ thương mại.

Một khía cạnh nữa là TPP cho phép cộng gộp nguyên liệu từ các nước thành viên, nên hàng hóa Việt Nam sản xuất từ nguyên liệu nhập khẩu từ các nước TPP sẽ được hưởng ưu đãi khi xuất khẩu sang Australia.

Với sự đa dạng của các thành viên TPP thì khả năng tăng xuất khẩu của Việt Nam sang Australia sau khi TPP có hiệu lực là rất lớn.

- Một thực tế hiện nay là doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam còn chiếm đa số, vậy muốn tiếp cận thị trường Australia sẽ cần phải lưu ý những gì, thưa bà?

Bà Nguyễn Hoàng Thúy: Chính sách thương mại và thuế của Australia khá minh bạch, nhưng hàng rào phi thuế quan (các quy định về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, kiểm dịch động vật...) khá chặt chẽ.

Nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa nắm được, hoặc chưa cập nhật được các quy định nhập khẩu hàng hóa và quy định về kiểm dịch đối với hàng nhập khẩu của Australia. Vì vậy, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường này còn gặp khó khăn ở khâu thâm nhập thị trường và kiểm dịch.

Hơn thế nữa, thương hiệu cho hàng xuất khẩu của Việt Nam vẫn chưa được các doanh nghiệp quan tâm, đầu tư và phát triển xứng tầm.

Thực tế cho thấy, hầu hết những mặt hàng nông, thủy sản của Việt Nam được xuất khẩu vẫn chỉ ở dạng xuất thô, xuất khẩu nguyên liệu, sản phẩm đã qua chế biến thì phần lớn lại mang tên của đối tác nước ngoài. Giá trị xuất khẩu nông sản của Việt Nam so với các nước có trình độ tương đương thấp hơn nhiều. Vì thế, người tiêu dùng Australia chỉ biết một số ít thương hiệu hàng xuất khẩu Việt Nam.

Với thực trạng xuất khẩu hàng hóa sang Australia như hiện nay, vấn đề đặt ra là Việt Nam phải khắc phục các mặt tồn tại, hạn chế để thúc đẩy hoạt động này phát triển tương xứng với tiềm năng xuất khẩu của nước ta và nhu cầu nhập khẩu của phía Australia.



- V​ới góc độ Tham tán thương mại, ​theo bà những bất cập trên cần giải quyết như thế nào?

Bà Nguyễn Hoàng Thúy: Để tận dụng tốt nhất cơ hội mà Hiệp định AANZFTA cũng như Hiệp định TPP mang lại, theo tôi các doanh nghiệp Việt Nam cần phải tích cực, chủ động trong việc tìm hiểu thông tin về thị trường Australia và những ưu đãi mà hàng xuất khẩu Việt Nam được hưởng trong các Hiệp định này.

Thực tế hiện nay, cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Australia khá đơn điệu và chất lượng hàng còn nhiều bất cập khi so sánh với cơ cấu và chất lượng hàng xuất khẩu của các đối thủ cạnh tranh khác, do vậy, các doanh nghiệp cần phải đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm thông qua việc đầu tư đổi mới công nghệ và chủ động triển khai áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế (ISO 9000, HACCP,...) đáp ứng yêu cầu bảo vệ sức khoẻ, môi trường.

Nếu muốn trụ vững trên thị trường Australia, các doanh nghiệp Việt Nam phải hướng đến một nền sản xuất sạch hơn, bởi chất lượng sản phẩm luôn là vấn đề đặt lên hàng đầu chứ không phải là sản lượng và giá cả thấp. ​​Đặc biệt, việc hình thành chuỗi liên kết là rất cần thiết để có thể cạnh tranh tốt hơn.

Một điểm nữa cần lưu ý là khi hàng xuất khẩu đã có chỗ đứng trên thị trường thì nhất thiết doanh nghiệp phải đăng ký và bảo vệ thương hiệu hàng hóa, tránh bị mất hay tranh chấp thương hiệu.

- Xin cảm ơn bà.

cafeF.vn
(Sàn giao dịch TMĐT NOCNDEAL) - Nhiều doanh nghiệp bắt đầu rục rịch lên kế hoạch xuất khẩu sang Mỹ nhằm tận dụng lợi thế từ TPP mang lại




Đầu tháng 3 tới, Công ty Xuất khẩu Giày Liên Phát (Bình Dương) sẽ bắt tay thực hiện những lô hàng đầu tiên trong đơn hàng xuất đi Mỹ. Bà Trương Thúy Liên, Giám đốc Công ty Giày Liên Phát, cho biết để tận dụng lợi thế từ Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), nhiều khách hàng Mỹ đã đến Việt Nam đặt vấn đề gia công với doanh nghiệp (DN).

Muốn xuất cả tăm, nhang, mùn cưa… qua Mỹ

Theo bà Liên, để làm hàng cho nhà nhập khẩu Mỹ, Liên Phát phải đáp ứng các yêu cầu về trách nhiệm xã hội và an ninh hàng hóa. Nghĩa là, mọi hàng hóa trong quá trình sản xuất đều phải có nguồn gốc rõ ràng và phía Mỹ sẽ giám sát quy trình này ở tất cả công đoạn. “Lần đầu tiên làm việc với DN Mỹ khá thuận lợi đang mở ra nhiều triển vọng lớn cho chúng tôi” - bà Liên hào hứng.

Một số nhà đầu tư trong ngành dệt nhuộm, may mặc, giày dép có nhà máy ở Trung Quốc cũng đã dời toàn bộ hoạt động sang Việt Nam nhằm đón đầu TPP bởi thị trường Mỹ quá hấp dẫn. Tham tán Công sứ thương mại Mỹ Đào Trần Nhân cho biết 99% giày dép bán tại Mỹ là hàng nhập khẩu. Thị trường này chỉ hơn 317 triệu dân nhưng tiêu thụ tới 2,5 tỉ đôi giày dép mỗi năm. Tính trung bình, mỗi người Mỹ sử dụng gần 8 đôi giày dép/năm. Hiệp hội Giày dép Mỹ ước tính nhờ TPP, thị phần xuất khẩu giày dép của Việt Nam tại nước này sẽ tăng từ 12% lên 22% vào năm 2019.

Đại diện Thương vụ Việt Nam tại Mỹ cho biết gần đây đã nhận được rất nhiều yêu cầu của DN hỏi thông tin để xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ. Trong đó, phần lớn DN cần tìm hiểu kỹ thị trường và những lợi ích do TPP mang lại. Ngay cả những DN nhỏ chuyên sản xuất tăm tre, trầm hương, nhang và cả mùn cưa nén thành viên nhỏ để đốt lò sưởi... cũng muốn tìm hiểu thông tin để xuất hàng đi Mỹ khi TPP có hiệu lực. “Mới đây, có DN đang làm về xử lý ảnh nhưng lại hỏi thủ tục để xuất khẩu vải, nhãn vào Mỹ!” - ông Nhân tiết lộ.

Coi chừng rào cản kỹ thuật

Theo ghi nhận của phóng viên Báo Người Lao Động, sau khi TPP được chính thức ký kết vào đầu tháng 2-2016, rất nhiều DN xuất khẩu đang tìm hiểu các quy định về thủ tục, rào cản kỹ thuật để đưa hàng sang Mỹ.

Ông Lê Minh Chánh, Giám đốc HTX Thanh Long Long Trí (tỉnh Long An), cho biết đang tìm hiểu các quy định liên quan đến rào cản kỹ thuật nhằm đưa thanh long xuất khẩu qua Mỹ. Hiện thanh long của Long Trí chủ yếu xuất qua Trung Quốc nhưng không ổn định nên DN muốn tìm một thị trường mới bền vững hơn. Khó khăn lớn nhất mà ông Chánh e ngại là các quy định về rào cản kỹ thuật, an toàn vệ sinh thực phẩm (như dư lượng kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật…) ở Mỹ rất phức tạp, không dễ tìm hiểu và thực hiện.

Theo ông Trần Quốc Thanh, thành viên HĐQT Tập đoàn Lộc Trời, khoảng 2 năm nay, DN này đã xuất khẩu gạo qua Mỹ. Đây là một thị trường rất lớn, hiệu quả về mặt kinh doanh và giá tốt nhưng vướng mắc lớn nhất vẫn là rào cản kỹ thuật. Chẳng hạn, những chỉ tiêu trong MRL (mức giới hạn dư lượng thuốc bảo vệ thực vật) của cơ quan quản lý Mỹ đưa ra không rõ ràng khiến DN rất khó đáp ứng. “Thực tế, chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam không thua các nước như Thái Lan nhưng do chỉ xây dựng thương hiệu gần đây nên xuất qua Mỹ không đơn giản. Do đó, các DN trong ngành cần sự hỗ trợ nhiều hơn từ phía nhà nước” - ông Thanh mong mỏi.

Liên quan đến những rào cản kỹ thuật mà Mỹ áp dụng đối với lĩnh vực nông - thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang làm việc với Mỹ để tìm hướng giải quyết. Đại diện Thương vụ Việt Nam tại Mỹ cho biết phía Mỹ không quy định rõ hàm lượng, dư lượng chất kháng sinh cụ thể, trong khi quy chuẩn ở châu Âu và Nhật khá rõ. DN muốn xuất khẩu hàng thực phẩm, động vật vào Mỹ cần nghiên cứu kỹ nội dung trong quy định của Luật Hiện đại hóa về vệ sinh an toàn thực phẩm. Với mặt hàng thực phẩm và đồ uống, DN xuất khẩu cần lưu giữ hồ sơ từ khâu sản xuất, chế biến của từng lô hàng để truy xuất nguồn gốc khi cần. Nếu DN từ chối, không cho kiểm tra, đồng nghĩa với việc sẽ bị từ chối xuất khẩu vào Mỹ.

“Một loại quả của Việt Nam muốn được xuất sang Mỹ cần 5-6 năm. Hiện chỉ có 4 loại: thanh long, chôm chôm, nhãn và vải của Việt Nam được phép chính thức xuất sang Mỹ. Chúng tôi đang làm việc để xoài và vú sữa có tên trong danh sách trái cây được nhập khẩu thị trường này. Trong khi đó, rất nhiều DN đã liên hệ với thương vụ để xin xuất khẩu đủ loại trái cây, như: chanh tươi, chanh dây…” - ông Nhân cho biết.

Phải hiểu để làm ăn với Mỹ

Theo nhiều chuyên gia kinh tế, Mỹ là thị trường lớn, có sức tiêu thụ rất cao nhưng hiện nay, đa số DN Việt Nam quy mô vừa và nhỏ nên không đáp ứng được đơn hàng lớn. Chẳng hạn, các hệ thống siêu thị của Mỹ đều là những tập đoàn hàng đầu thế giới, như Walmart có doanh số hằng năm gần 500 tỉ USD. Muốn bán hàng cho đại siêu thị này, cần những đơn hàng lớn nhưng lại vượt quá tầm của DN Việt. Do đó, các DN muốn làm ăn với Mỹ cần tính đến chuyện liên kết, hợp tác với nhau.
Sự ra đời của sàn giao dịch thương mại điện tử B2B tại NOCNDEAL.com phục vụ riêng cho các nước thành viên TPP là một trong những giải pháp rất hữu ích để hiện thực hóa  việc xuất hàng qua Mỹ đạt chuẩn TPP. Doanh nghiệp Việt Nam tham gia sàn NOCNDEAL sẽ được chuyên gia tư vấn kỹ về TPP, những điều cần thực hiện để sản phẩm của doanh nghiệp được xác nhận đạt chuẩn TPP.

cafeF.vn 
(Sàn TMĐT B2B NOCNDEAL) Trước thách thức của dệt may Việt Nam khi chạm ngưỡng cửa Hiệp định TPP, với kinh nghiệm hơn 30 năm trong nghề, ông Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty CP May Hưng Yên, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên cho rằng, Việt Nam đang làm tốt khâu may thì chỉ nên tiếp tục làm tốt khâu đoạn này, "một nghề cho chín…"

>> Doanh Nghiệp Cần Chú Ý Đến Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Trong Thời Đại TPP
>> Tổng Thống Mỹ Obama Tin Tưởng Quốc Hội Thông Qua TPP
>> Dệt May Có 1 Chương Riêng Trong Hiệp Định TPP



Câu chuyện của dệt may trong TPP đang mở ra nhiều thách thức đối với các doanh nghiệp trong ngành. Ông nhận định như thế nào về vấn đề này?

Quy tắc chủ đạo của dệt may trong TPP là “yarn forward” hay còn gọi là “từ sợi trở đi”. Quy tắc này được hiểu một cách chung nhất là tất cả công đoạn sản xuất hàng dệt may bao gồm kéo sợi, dệt vải, nhuộm, hoàn tất và may quần áo phải được thực hiện trong nội khối TPP.

Tuy nhiên, TPP cũng chấp nhận một số mặt hàng được áp dụng quy tắc “cắt và may” đối với những sản phẩm gồm vali, túi xách, quần áo trẻ em tổng hợp…

Chính vì lẽ đó nên chúng tôi đang tìm cách triển khai đến các doanh nghiệp phải khai thác trước những lợi thế này. Lộ trình 5 năm tới sẽ cần đầu tư một số mặt hàng có lợi thế đáp ứng được yêu cầu của “yarn forward”.

Đây có phải là điểm khó nhất của doanh nghiệp dệt may khi tham gia TPP?

Đúng vậy, điều này đỏi hỏi trong vài năm tới chúng ta phải đáp ứng được vải hoàn tất, trong khi đó, hầu hết doanh nghiệp đang thiếu vốn đề đầu tư. Hai là doanh nghiệp cũng đang yếu về kỹ thuật. Do đó con đường sắp tới là phải “lôi kéo” doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư, chúng ta là người góp vốn, cổ phần, có thể “đối tác” đầu tư tới 90% vốn nhưng phải cam kết bao tiêu sản phẩm đầu ra. Đó là con đường của doanh nghiệp dệt may trong thời gian tới.

Tổng kết năm 2015, ngành Dệt may đã không đạt được mục tiêu đề ra là 27,5 tỷ USD, theo ông nguyên nhân là do đâu?

Tại sao năm 2015 tăng trưởng của dệt may cũng như một số ngành hàng khác như thủy sản không đạt mục tiêu đề ra? Theo tôi có một nguyên do khá lớn là vấn đề tỷ giá.

Trong khi các nước đều hạ giá đồng tiền so với USD, ví dụ Nhật Bản hạ giá tới 17%, châu Âu 18% nhưng Việt Nam chỉ nới room từ 2 lên 4%, cộng trừ 2 nghĩa là chỉ tăng được 2% và cộng trừ 2 thôi, đương nhiên hàng Việt Nam trở thành hàng đắt, mà đắt đương nhiên thị trường thế giới sẽ chọn hàng rẻ hơn.

Bắt đầu từ năm 2016, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện chính sách tỷ giá trung tâm, không phải theo số liệu liên ngân hàng nữa mà theo cơ chế thị trường nhưng tôi cho rằng thực sự vẫn chưa linh hoạt. Nếu so sánh với tất cả đồng tiền trong ASEAN hay những thị trường xuất khẩu lớn như Nhật Bản hay châu Âu, chúng ta đều chưa bằng.

Vậy theo ông, triển vọng 2016 đối với doanh nghiệp sẽ như thế nào?

Năm 2016 chúng tôi xác định vẫn là những khó khăn. Hiện doanh nghiệp thế giới vẫn đang tìm nơi nào cung cấp sản phẩm có giá tốt, bởi trong thương mại, giá là vấn đề đầu tiên doanh nghiệp quan tâm. Do đó, chúng ta phải làm tốt được vấn đề này.

Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng không thể trông chờ tất cả vào Nhà nước mà phải tự điều chỉnh. Điều chỉnh ở đây là nâng cao năng lực sản xuất, tăng năng suất lao động để giảm những chi phí đầu vào tăng như bảo hiểm xã hội, phí công đoàn…

Tôi cũng rất quan tâm đến vị trí của doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng hàng hóa toàn cầu. Muốn có một sản phẩm dệt may cần có nhiều công đoạn, từ trồng bông, dệt sợi đến cắt may, phân phối. Tôi cho rằng, nếu chúng ta đang làm tốt khâu may, tốt nhất vẫn nên làm tốt khâu này. Trung Quốc nhận cắt may một áo sơ mi với giá 90 xu, nếu ta nhận với giá 85 xu, ta sẽ lấy được mối hàng còn nếu nhận với giá 1 đồng thì không ai giao hàng cả. Con đường duy nhất là làm tốt một khâu nào đó trong chuỗi thì mới tham gia được trong chuỗi liên kết toàn cầu.

Cá nhân ông có kỳ vọng gì trong năm 2016?

Doanh nghiệp đang rất kỳ vọng vì thành công của Đại hội Đảng XII và tháng 5 tới sẽ bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Chắc chắn với tư tưởng đổi mới của Đại hội Đảng, nhiều vấn đề sẽ được cải cách.

Trong năm 2015 Chính phủ đã thực hiện được nhiều vấn đề cải cách. Theo đà này, nhiều lĩnh vực sẽ không chỉ đạt được tiêu chuẩn của ASEAN 6 mà có thể là ASEAN 3, có nghĩa là môi trường sẽ rất thông thoáng cho doanh nghiệp hoạt động và phát triển.

Số lượng doanh nghiệp thành lập trong năm 2015 tăng đột biến, tôi tin rằng trong năm 2016 này, sức sống của doanh nghiệp sẽ tốt hơn, doanh nghiệp sẽ đón nhận nhiều điều mới hơn trong quá trình đổi mới và phát triển của đất nước.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn: Báo Hải Quan Online
Sàn thương mại điện tử B2B NOCNDEAL - Năm 2016, xuất khẩu nông lâm thủy sản được dự báo sẽ có nhiều triển vọng do nhu cầu thị trường tăng và cơ hội được hưởng ưu đãi lớn về thuế, sức cạnh tranh tăng từ các Hiệp định thương mại tự do vừa kết thúc đàm phán.

>> Doanh Nghiệp Dệt May, Giày Da Lo Vì Chưa Hiểu Sâu Về TPP
>> Việt Nam Rất Có Giá Trong TPP
>> Góc Nhìn TPP - Phỏng Vấn Đại Sứ Hoa Kỳ Tại Việt Nam



Những mặt hàng nông sản có cơ hội tăng trưởng xuất khẩu trong năm 2016 như: hạt điều, hạt tiêu, gỗ, sắn và rau quả.

Theo đó, định hướng thị trường xuất khẩu nông lâm thủy sản năm 2016 sẽ tập trung vào những thị trường trọng điểm bao gồm Hoa Kỳ, thị trường châu Âu, ASEAN, Nga và các nước Đông Âu, Trung Quốc, châu Phi.

Trong các thị trường xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam, nền kinh tế Hoa Kỳ có dự báo khả quan nhất cho năm 2016 với nhu cầu của thị trường nội địa Hoa Kỳ sẽ tăng mạnh và dự báo sẽ vẫn tiếp tục có cầu ổn định đối với hàng hóa của Việt Nam.

Đó là thông tin vừa được đưa ra tại buổi Tọa đàm Thúc đẩy thương mại nông sản Việt Nam giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Công Thương diễn ra ngày 18/2, tại Hà Nội.

Ông Lê Văn Bảnh, Cục trưởng Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối cho biết, Hoa Kỳ là thị trường không quá khó tính và chưa yêu cầu cao về an toàn thực phẩm và chất lượng, việc tận dụng những ưu đãi từ TPP cũng sẽ là lợi thế cho nông sản Việt Nam trong thời gian tới.

Theo ông Bảnh, trong nhiều năm qua, các mặt hàng như gỗ và sản phẩm của gỗ, hàng thủy sản là những mặt hàng chủ lực, đóng góp tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ.

"Ngoài ra, Hoa Kỳ thường là thị trường dẫn đầu về nhập khẩu các mặt hàng nông sản khác của Việt Nam như: hạt điều, hạt tiêu, càphê và sản phẩm mây tre cói thảm. Đây cũng là thị trường tiêu thụ lớn cao su, chè và rau quả Việt Nam," Cục trưởng Lê Văn Bảnh nói.

Sự hấp dẫn của thị trường Hoa Kỳ cũng đồng nghĩa với sự cạnh tranh xuất khẩu vào thị trường này rất quyết liệt, đặc biệt những đối thủ cạnh tranh lớn của Việt Nam là Trung Quốc, Thái Lan và Indonesia - những nước tương đồng với Việt Nam về các mặt hàng xuất khẩu.

Mặt khác, những rào cản về kỹ thuật và thương mại cũng là khó khăn không nhỏ đối với các doanh nghiệp Việt Nam gần đây như: thuế chống bán phá giá tăng cao đối với cá tra, các yêu cầu của Chương trình thanh tra cá da trơn theo Farmbill 2014 có hiệu lực từ tháng 3/2016.

Do đó, năm 2016, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có kế hoạch tổ chức hoạt động đàm phán tháo gỡ khó khăn vướng mắc đối với cá tra và hoạt động kết nối doanh nghiệp. Dự kiến quý 2 năm 2016, Bộ sẽ mở rộng thị trường xuất khẩu đối với sản phẩm chè tại Hoa Kỳ.

Bên cạnh đó, Hiệp định thương mại tự do với EU đã kết thúc đàm phán và mở ra cơ hội cho ngành nông nghiệp Việt Nam khi 90% hàng hóa vào thị trường này được hưởng mức thuế suất 0%.

Năm nay, ngành nông nghiệp tiếp tục duy trì sự hiện diện các ngành hàng nông lâm thủy sản tại thị trường truyền thống này, nhất là tập trung đột phá vào một số thị trường có mức cầu lớn, có lợi thế để thâm nhập sâu vào các nước châu Âu.

Để chủ động thích ứng với những biến động của kinh tế quốc tế, đảm bảo hội nhập đem lại hiệu quả thiết thực, có chiều sâu và sẵn sàng ứng phó với những vấn đề phát sinh trong thương mại nông lâm thủy sản, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Trần Thanh Nam đề nghị các cơ quan đại diện thương mại của Việt Nam ở nước ngoài, cần tăng cường phối hợp và đảm bảo việc giải quyết kịp thời các rào cản kỹ thuật, các tranh chấp phát sinh trong thương mại nông, lâm thuỷ sản.

Thứ trưởng Nam cũng bày tỏ mong muốn, tăng cường sự phối hợp giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Công thương trong việc tiếp tục thúc đẩy mở cửa thị trường nông lâm thủy sản của Việt Nam ra quốc tế nhằm đa dạng hóa thị trường, giữ vững và phát triển thị trường khó tính, chú trọng các thị trường tiềm năng, dễ tính như các nước Trung Đông (UAE, Saudi Arabia, Iran...), các nước châu Phi, khai thác hiệu quả các thị trường truyền thống như ASEAN, EU. Đồng thời tìm kiếm và đa dạng các hình thức xuất khẩu mới.



Theo CafeF.vn
"Việt Nam rất có giá trong TPP" - Đây là nhận định được ông Trương Đình Tuyển, cố vấn đàm phán của Chính phủ đưa ra tại hội thảo “Cơ hội và thách thức của kinh tế Việt Nam khi Hiệp định TPP có hiệu lực” do Hội Luật gia Việt Nam phối hợp với Viện Khoa học pháp lý và kinh doanh quốc tế TBLA tổ chức chiều 19-2 tại TP.HCM.




Theo ông Trương Đình Tuyển, về kinh tế, trong tương lai Việt Nam là nước đem lại giá trị gia tăng lớn thứ 2 cho Hoa Kỳ, sau Nhật Bản. Về chiến lược, Việt Nam là một nước có trình độ thấp nhất trong các nước tham gia TPP, do đó, Việt Nam sẽ là hình mẫu để Hoa Kỳ thúc đẩy các nước khác trên vành đai Thái Bình Dương tham gia đàm phán khu vực mậu dịch tự do APEC. Ngoài ra, Việt Nam cũng có vị trí địa chính trị rất quan trọng trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, địa bàn cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, nhất là giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc.

Trên cơ sở đó, TPP mở ra những cơ hội rất lớn cho Việt Nam về các mặt thu hút đầu tư, mở rộng xuất khẩu, tiếp nhận công nghệ mới, cơ cấu lại nền kinh tế, cải thiện môi trường kinh doanh…

Tuy nhiên, song hành với cơ hội cũng là những thách thức không nhỏ. Trước tiên, đó là sự cạnh tranh quyết liệt trên cả ba cấp độ sản phẩm, doanh nghiệp và quốc gia. Trong đó cạnh tranh về chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh là yếu tố quyết định. Tiêu biểu như các sản phẩm nông nghiệp, thách thức lớn nhất vẫn là đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng chống dịch bệnh. Nếu không đảm bảo, dù thuế nhập khẩu của các nước được đưa về 0%, hàng hóa dồi dào, chủng loại phong phú nhưng chất lượng kém vẫn không xuất khẩu được.

Ông Tuyển nhấn mạnh, cơ hội tự nó không biến thành lợi ích, không tự nó biến thành sức mạnh trên thị trường. Tương tự, thách thức tuy là sức ép trực tiếp nhưng ép đến đâu còn tùy thuộc vào đối sách của chủ thể. Chủ thể ở đây là nhà nước và doanh nghiệp.

Vậy làm thế nào để tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức? Theo ông Tuyển, việc trước tiên là các cơ quan nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp phải năm vững các cam kết của Việt Nam và 11 đối tác để thực thi cho đúng. Nếu không sẽ bị kiện khi thực hiện không đúng cam kết và cũng không biết để kiện lại khi đối tác vi phạm.

Hầu hết các ý kiến tại hội thảo cũng cho rằng, vấn đề giải quyết tranh chấp là thách thức không nhỏ của Việt Nam khi tham gia TPP. Luật sư, PGS.TS Chu Hồng Thanh, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam nhận định, khi tham gia TPP, chắc chắn sẽ có những tranh chấp nảy sinh. Do đó, việc nghiên cứu sâu các quy định về giải quyết tranh chấp đã được ghi nhận trong Hiệp định TPP là một việc không thể bỏ qua.

Theo các chuyên gia, hệ thống thực thi pháp luật của Việt Nam hiện còn yếu, sự phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống chưa tốt. Đội ngũ nhân lực về pháp luật còn yếu về nhiều mặt. Do đó, ông Trương Đình Tuyển cũng cho rằng, các luật sư của Việt Nam cần thành thạo ngoại ngữ và nắm vững các cam kết trong hiệp định, trong đó đặc biệt chú ý các chương về pháp lý thể chế, đầu tư, sở hữu trí tuệ và cả WTO…; nắm vững các công ước quốc tế có liên quan đến xử lý tranh chấp được dẫn chiếu trong hiệp định…

Liên quan đến vấn đề cạnh tranh của doanh nghiệp, ông Tuyển đánh giá, chỉ số cạnh tranh toàn cầu và môi trường kinh doanh của Việt Nam đang ở mức thấp và là vùng trũng trong ASEAN. Theo báo cáo Chỉ số cạnh tranh toàn cầu năm 2015 -2016 do WEF công bố, chỉ số cạnh tranh về thể chế - một yếu tố quyết định của cạnh tranh vĩ mô, Việt Nam xếp thức 92 trong số 140 nước được xếp hạng và đứng thứ 8 trong 10 nước ASEAN (thấp hơn các nước ASEAN-6 và thấp hơn cả Lào).

Cũng theo báo cáo này, các chỉ số mà DN có vai trò quyết định đến khả năng cạnh tranh vi mô, Việt Nam có thứ hạng rất thấp: xếp thứ 99 về sự sẵn sàng về công nghệ, sự tinh thế trong kinh doanh xếp thứ 106, đổi mới sáng tạo xếp thứ 87. Về môi trường kinh doanh, theo đánh giá của WB, năm 2015, Việt Nam xếp thứ 78, tụt 6 hạng so với năm 2014.

Từ thực tế đó, ông Trương Đình Tuyển cho rằng, để cải thiện môi trường kinh doanh, yếu tố quyết định chính là cải cách thể chế để nâng cao năng lực cạnh tranh vĩ mô.

Theo CafeF.vn

Ngày 26/1/2015, các nước thành viên TPP đã công bố bản toàn văn chính thức của Hiệp định.
Ngày 4/2/2016, Hiệp định TPP đã được chính thức ký kết tại New Zealand.
Dưới đây là nội dung chi tiết Toàn văn Hiệp định TPP (bản chính thức) bằng tiếng Anh và bằng tiếng Việt cùng với các Bản Tóm tắt nội dung các Chương Hiệp định của Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) và Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia (DFAT) bằng tiếng Anh và Bộ Công Thương Việt Nam (MOIT) bằng tiếng Việt.
Nội dung Hiệp định:
Lời mở đầu (Tiếng Anh) (Tiếng Việt) 
Chương 1: Các điều khoản và định nghĩa chung (Tiếng Anh) (Tiếng Việt) 
Bản tóm tắt chương của USTR | DFAT 
Chương 2: Đối xử quốc gia và mở cửa thị trường đối với hàng hóa (Tiếng Anh) (Tiếng Việt) 
Bản tóm tắt chương của USTR | DFAT 
Phụ lục 2-D: Lộ trình cắt giảm thuế
Chương 3: Quy tắc xuất xứ và các thủ tục chứng nhận xuất xứ (Tiếng Anh) (Tiếng Việt) 
Bản tóm tắt chương của USTR | MOIT | DFAT
  • Phụ lục 3-D: Quy tức xuất xứ cụ thể mặt hàng (Tiếng Anh) (Tiếng Việt)
  • Phụ lục 3-D: Tiểu phụ lục 1 - Các điều khoản liên quan đến Quy tắc xuất xứ cụ thể cho phương tiện và bộ phận của phương tiện (Tiếng Anh) (Tiếng Việt)
Chương 4: Dệt may (Tiếng Anh) (Tiếng Việt) 
 Bản tóm tắt chương của USTR | MOIT | DFAT
Chương 5: Hải quan (Tiếng Anh) (Tiếng Việt) 
Bản tóm tắt chương của USTR | DFAT
Chương 6: Phòng vệ Thương mại (Tiếng Anh) (Tiếng Việt) 
 Bản tóm tắt chương của USTR | MOIT  | DFAT
Chương 7: Các biện pháp an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (Tiếng Anh) (Tiếng Việt) 
Bản tóm tắt chương của USTR | DFAT
Chương 8: Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (Tiếng Anh) (Tiếng Việt)  
Bản tóm tắt chương của USTR | DFAT
Chương 9: Đầu tư (Tiếng Anh) (Tiếng Việt) 
Bản tóm tắt chương của USTR | DFAT
Chương 10: Thương mại dịch vụ xuyên biên giới (Tiếng Anh) (Tiếng Việt) 
 Bản tóm tắt chương của USTR | DFAT
Chương 11: Dịch vụ Tài chính (Tiếng Anh) (Tiếng Việt) 
Bản tóm tắt chương của USTR | DFAT
Chương 12: Nhập cảnh tạm thời cho khách kinh doanh (Tiếng Anh)(Tiếng Việt) 
Bản tóm tắt chương của USTR | DFAT
Phụ lục 12-A: Nhập cảnh tạm thời
Chương 13: Viễn thông  (Tiếng Anh) (Tiếng Việt)
Bản tóm tắt chương của USTR | DFAT
Chương 14: Thương mại điện tử  (Tiếng Anh) (Tiếng Việt)
Bản tóm tắt chương của USTR | DFAT
Chương 15: Mua sắm Chính phủ  (Tiếng Anh) (Tiếng Việt)
Bản tóm tắt chương của USTR | DFAT
​​Phụ lục 15-A: Mua sắm Chính phủ
Chương 16: Cạnh tranh  (Tiếng Anh) (Tiếng Việt)
Bản tóm tắt chương của USTR |MOIT |DFAT
Chương 17: Doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước và độc quyền chỉ định  (Tiếng Anh) (Tiếng Việt)
Bản tóm tắt chương của USTR |MOIT | DFAT
Chương 18: Sở hữu trí tuệ  (Tiếng Anh) (Tiếng Việt) 
Bản tóm tắt chương của USTR | DFAT
Chương 19: Lao động (Tiếng Anh) (Tiếng Việt) 
Bản tóm tắt chương của USTR | MOIT | DFAT
Chương 20: Môi trường (Tiếng Anh) (Tiếng Việt) 
Bản tóm tắt chương của USTR | MOIT | DFAT
Chương 21: Hợp tác và nâng cao năng lực  (Tiếng Anh) (Tiếng Việt)
Bản tóm tắt chương của  USTR | DFAT
Chương 22: Nâng cao sức cạnh tranh và Thuận lợi hóa hoạt động kinh doanh (Tiếng Anh) (Tiếng Việt) 
Bản tóm tắt chương của USTR | DFAT
Chương 23: Phát triển (Tiếng Anh) (Tiếng Việt) 
Bản tóm tắt chương của USTR | DFAT
Chương 24: Doanh nghiệp vừa và nhỏ (Tiếng Anh) (Tiếng Việt) 
Bản tóm tắt chương của USTR | DFAT
Chương 25: Hội tụ phương pháp hoạch định chính sách thương mại (Tiếng Anh)  (Tiếng Việt) 
Bản tóm tắt chương của  USTR | DFAT
Chương 26: Minh bạch hóa và chống tham nhũng (Tiếng Việt) (Tiếng Anh) 
Bản tóm tắt chương của  USTR | DFAT
Chương 27: Các điều khoản hành chính và thể chế (Tiếng Anh)(Tiếng Việt) 
Bản tóm tắt chương của  USTR | DFAT
Chương 28: Giải quyết tranh chấp (Tiếng Anh) (Tiếng Việt) 
Bản tóm tắt chương của USTR | DFAT
Chương 29: Các ngoại lệ và các điều khoản chung (Tiếng Anh) (Tiếng Việt) 
Bản tóm tắt chương của USTR | DFAT
Chương 30: Các điều khoản cuối cùng (Tiếng Anh) (Tiếng Việt) 
Bản tóm tắt chương của USTR | DFAT

PHỤ LỤC
Phụ lục I: Non-Conforming Measures:
Phụ lục II: Non-Conforming Measures:
Phụ lục III: Dịch vụ tài chính
Phụ lục IV: Doanh nghiệp nhà nước

Ngoài các cam kết chính trong văn bản Hiệp định, các bên còn xây dựng các Thư song phương nhằm làm rõ hơn một số nội dung cam kết hoặc thổng nhất cách hiểu về một số nội dung cam kết trong Hiệp định. Dưới đây là các Thư song phương của Việt Nam với một số đối tác TPP:
Thư song phương giữa Việt Nam và một số đối tác TPP: 
Australia
Brunei Darussalam
Canada
Chile
Japan
Malaysia
Mexico
New Zealand
Peru
Singapore
United States
Nguồn: www.trungtamwto.vn