Hiển thị các bài đăng có nhãn Lợi ích TPP. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lợi ích TPP. Hiển thị tất cả bài đăng
TPP - Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương đã được 12 nước thành viên chính thức ký kết vào ngày 4-2-2016 và sẽ có hiệu lực sau 2 năm. Đây là một mô hình mới về hợp tác kinh tế, vừa có tính chất toàn diện, vừa có mức độ cam kết sâu và rộng. 



Đàm phán TPP chính là đàm phán sâu về mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ và các rào cản thương mại. Kể từ số báo này, ĐTTC giới thiệu loạt bài viết của luật sư Nguyễn Văn Lộc, Chủ tịch Hãng luật LP Group, về chủ đề này để bạn đọc, nhà đầu tư và DN có cái nhìn rõ hơn.

Việc tham gia TPP sẽ mở ra cho Việt Nam, các DN trong nước cơ hội lớn cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao kim ngạch xuất khẩu, nhưng đồng thời cũng đặt ra một loạt thách thức mới cho DN Việt. Có thể nói, việc nhận thức rõ được cơ hội và thách thức mà TPP mang đến và tận dụng các cơ hội để hạn chế và vượt qua thử thách sẽ thúc đẩy các DN trong nước nhập cuộc một cách mạnh mẽ, sâu rộng và công bằng hơn.

Những cơ hội cho doanh nghiệp Việt trong thời kỳ hội nhập TPP

Theo Vietnam Report, 91% DN đánh giá tích cực về thay đổi liên quan đến chính sách thuế sau khi Việt Nam ký kết TPP. Đây cũng chính một trong muôn vàn cơ hội TPP gián tiếp mang lại cho các DN Việt Nam.

Thứ nhất, tham gia vào TPP sẽ tạo điều kiện tốt nhất cho xuất khẩu của các DN Việt Nam. Trong TPP có 3 nước áp dụng thuế xuất khẩu là Việt Nam, Malaysia, Canada và 3 nước đều cam kết xóa bỏ thuế xuất khẩu, ngoại trừ các nhóm mặt hàng được bảo lưu. Việt Nam hiện tại đã cam kết xóa bỏ đối với phần lớn các mặt hàng hiện đang có áp dụng thuế xuất khẩu, cơ bản theo lộ trình từ 5 đến 15 năm sau khi TPP có hiệu lực. Riêng về thuế nhập khẩu, Việt Nam đã cam kết xóa bỏ gần 100% số dòng thuế trong Hiệp định TPP, trong đó có 65,8% số dòng thuế có thuế suất 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực.

Thứ hai, TPP có độ mở, độ tự do hóa cao nhất so với các hiệp định đang có, từ khắp các lĩnh vực: không chỉ là về hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ mà còn cả về thương mại điện tử, lao động. Độ mở này sẽ tạo ra cơ hội để các DN Việt Nam tham gia hiệu quả hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, giúp Việt Nam trở thành một trong những địa chỉ hấp dẫn về đầu tư, thu hút nhiều dự án lớn từ các tập đoàn đa quốc gia.

Thứ ba, TPP giúp tạo ra nhiều việc làm, từ đó thu hút một lượng lớn lao động cho các DN, mang lại những lợi ích về tài chính, cải thiện nguồn nhân lực.

Tóm lại, những lợi thế dành cho DN Việt khi TPP có hiệu lực có thể nhìn thấy được ngay như: thị trường mở rộng ra hơn, thuế quan giảm, có những mặt hàng thuế suất bằng 0%, dễ dàng tìm kiếm những thị trường mới. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội lớn thì còn có những thách thức đặt ra.

Và thách thức phải đối mặt

Thứ nhất, tham gia TPP, Việt Nam sẽ phải mở cửa chào đón hàng hóa, dịch vụ của các đối tác tại thị trường trong nước. Điều này đồng nghĩa với việc DN trong nước phải cạnh tranh gay gắt hơn ngay tại sân nhà với DN các nước tham gia TPP. Thuế nhập khẩu và xuất khẩu của đa số mặt hàng trong tương lai sẽ giảm dần về mức 0% và thị trường đầu tư, dịch vụ, thương mại sẽ mở cửa tự do. Do đó, việc các DN Việt phải làm là giải bài toán về cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ trong nước. Hệ quả theo sau thách thức này chính là nguy cơ làm mất đi thị phần nội địa. Thậm chí, các DN trong nước cũng phải cạnh tranh với nhau và bị đào thải nếu không đảm bảo nhu cầu của thị trường. 

Thứ hai, việc áp dụng tiêu chuẩn mới trong TPP sẽ tạo ra rào cản kỹ thuật (kể cả lao động và môi trường) và quyền lợi của nhà đầu tư, thí dụ như chứng chỉ sản phẩm đánh bắt đạt tiêu chuẩn bền vững, tiêu chuẩn xả thải và các yêu cầu đáp ứng về môi trường. Điều này yêu cầu các DN nếu muốn tận dụng cơ hội “vươn tới và tiếp cận” thị trường rộng mở của các nước thì phải am hiểu khi tiếp cận bất cứ thị trường nào, khi đã am hiểu và đáp ứng các tiêu chuẩn tiên quyết đặt ra mới có thể gia nhập sâu vào thị trường nước bạn.

Thứ ba, các quy định về quyền sở hữu trí tuệ hết sức chặt chẽ, đề cập đến tất cả các nội dung, điển hình như quyền tác giả, nhãn hiệu, bằng sáng chế, bí mật kinh doanh, thực thi quyền sở hữu trí tuệ… Đây chính là một trong những thách thức lớn đối với Việt Nam khi gia nhập TPP, bởi Việt Nam đang là một trong những quốc gia vi phạm bản quyền hàng đầu thế giới. Việc các DN nhận thức tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình ngay bây giờ chính là một mấu chốt giúp các DN bảo vệ được chính tài sản của DN khỏi sự xâm phạm của DN khác. Đồng thời còn thu hút được sự quan tâm của nhà đầu tư, vì không có nhà đầu tư nào muốn đầu tư vào một DN đang vướng phải những tranh chấp về sở hữu trí tuệ.

Thứ tư, vấn đề bên trong của nền kinh tế. Hầu hết các DN và bản thân người dân Việt Nam chưa hình thành và bắt kịp thói quen về việc tuân thủ các quy định của pháp luật, còn thờ ơ, đôi khi bảo thủ. Vì vậy, khi tham gia TPP sẽ gặp nhiều bỡ ngỡ, khó khăn về những tiêu chuẩn mới, những yêu cầu mới mà DN Việt chưa sẵn sàng để thay đổi.

Bản thân cơ hội không tự biến thành lợi ích và đôi khi chính thách thức lại làm nên cơ hội. Giữa lý thuyết và thực tế còn phụ thuộc rất nhiều vào việc Việt Nam sẽ tranh thủ khai thác các lợi thế trong TPP và ứng phó với thách thức, khó khăn như thế nào. Đối với các DN, chỉ khi có giải pháp phù hợp thì lợi thế tiềm năng mới trở thành hiện thực và các khó khăn mới có thể giải quyết được. Vì vậy, để biến thách thức thành lợi thế phụ thuộc vào chiến lược của bản thân DN và Nhà nước. 

Theo Luật sư Nguyễn Văn Lộc, Chủ tịch LP Group 
Đầu tư Tài chính
(Sàn giao dịch TMĐT B2B NOCNDEAL.com) - Để thực sự chủ động và tăng phần hưởng lợi TPP theo thời gian, một số hạt nhân dệt may đã bước đầu đổ vốn vào công nghiệp phụ trợ.


Sẽ không lâu nữa, người tiêu dùng có thể sẽ tìm thấy nhiều hơn những sản phẩm may mặc thương hiệu Việt Nam tại thị trường Mỹ, New Zealand, Australia, Nhật Bản hay nhiều quốc gia thành viên khác tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) với mức giá chỉ tương đương giá trong nước.

Tuy nhiên, khi nhiều nhà đầu tư bên ngoài TPP ồ ạt đầu tư vào lĩnh vực này đã làm dấy lên quan ngại rằng: Rất có thể chính họ mới là đối tượng được hưởng lợi từ TPP nếu doanh nghiệp dệt may Việt Nam chậm chân.

Nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào dệt may trong giai đoạn 2014-2015 đã ghi nhận con số 2 tỷ USD mỗi năm. Đây là mức đầu tư bằng cả 10 năm trước đó cộng lại. Đã có những dự án quy mô lớn tới 400-500 triệu USD phần lớn đến từ các nhà đầu tư Hàn Quốc, Hong Kong hay Đài Loan thuộc Trung Quốc. Mức tăng đột biến này hoàn toàn được lý giải khi TPP giành ưu đãi thuế 0% cho dệt may nhưng với điều kiện: đảm bảo từ sợi cho đến thành phẩm phải được sản xuất trên lãnh thổ Việt Nam.



Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội cho dệt may Việt Nam khi gia nhập TPP. Thực tế, có tới 90% doanh nghiệp trong nước chỉ hoạt động ở khâu gia công và mua nguyên liệu bán thành phẩm. Những đơn vị đầu tư vào sản xuất nguyên liệu phải nhập 100% bông xơ từ Mỹ hoặc Tây Phi, vì nguyên liệu trong nước không đảm bảo yêu cầu. Khi chưa đủ tiềm lực, nhiều doanh nghiệp trong nước đã nhìn nhận khu vực FDI như một đối tác thay vì một đối thủ như trước đây để có thể tận dụng nền tảng đầu tư hàng triệu USD từ khâu nguyên phụ liệu rồi cùng chia sẻ lợi ích từ TPP.

Về lâu dài, để thực sự chủ động và tăng phần hưởng lợi TPP theo thời gian, một số hạt nhân dệt may đã bước đầu đổ vốn vào công nghiệp phụ trợ. 2 năm chuẩn bị trước khi TPP có hiệu lực sẽ là thời gian để những dự án này nhanh chóng hoàn thiện, đưa ra nền tảng căn bản nhất cho dệt may trong nước tự tin bước vào TPP.

Dệt may với TPP - Nỗi lo còn dài hay TPP: Sân chơi không dễ cho dệt may... đều là những nhận định đúng. Song, cũng cần phải khẳng định thêm: Quy tắc xuất xứ của TPP cho dù khắt khe nhưng không phải là bài toán không lời giải đối với dệt may Việt Nam nếu khẩn trương chuẩn bị một cách bài bản.

VTV
(Sàn giao dịch TMĐT NOCNDEAL) - Nhiều doanh nghiệp bắt đầu rục rịch lên kế hoạch xuất khẩu sang Mỹ nhằm tận dụng lợi thế từ TPP mang lại




Đầu tháng 3 tới, Công ty Xuất khẩu Giày Liên Phát (Bình Dương) sẽ bắt tay thực hiện những lô hàng đầu tiên trong đơn hàng xuất đi Mỹ. Bà Trương Thúy Liên, Giám đốc Công ty Giày Liên Phát, cho biết để tận dụng lợi thế từ Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), nhiều khách hàng Mỹ đã đến Việt Nam đặt vấn đề gia công với doanh nghiệp (DN).

Muốn xuất cả tăm, nhang, mùn cưa… qua Mỹ

Theo bà Liên, để làm hàng cho nhà nhập khẩu Mỹ, Liên Phát phải đáp ứng các yêu cầu về trách nhiệm xã hội và an ninh hàng hóa. Nghĩa là, mọi hàng hóa trong quá trình sản xuất đều phải có nguồn gốc rõ ràng và phía Mỹ sẽ giám sát quy trình này ở tất cả công đoạn. “Lần đầu tiên làm việc với DN Mỹ khá thuận lợi đang mở ra nhiều triển vọng lớn cho chúng tôi” - bà Liên hào hứng.

Một số nhà đầu tư trong ngành dệt nhuộm, may mặc, giày dép có nhà máy ở Trung Quốc cũng đã dời toàn bộ hoạt động sang Việt Nam nhằm đón đầu TPP bởi thị trường Mỹ quá hấp dẫn. Tham tán Công sứ thương mại Mỹ Đào Trần Nhân cho biết 99% giày dép bán tại Mỹ là hàng nhập khẩu. Thị trường này chỉ hơn 317 triệu dân nhưng tiêu thụ tới 2,5 tỉ đôi giày dép mỗi năm. Tính trung bình, mỗi người Mỹ sử dụng gần 8 đôi giày dép/năm. Hiệp hội Giày dép Mỹ ước tính nhờ TPP, thị phần xuất khẩu giày dép của Việt Nam tại nước này sẽ tăng từ 12% lên 22% vào năm 2019.

Đại diện Thương vụ Việt Nam tại Mỹ cho biết gần đây đã nhận được rất nhiều yêu cầu của DN hỏi thông tin để xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ. Trong đó, phần lớn DN cần tìm hiểu kỹ thị trường và những lợi ích do TPP mang lại. Ngay cả những DN nhỏ chuyên sản xuất tăm tre, trầm hương, nhang và cả mùn cưa nén thành viên nhỏ để đốt lò sưởi... cũng muốn tìm hiểu thông tin để xuất hàng đi Mỹ khi TPP có hiệu lực. “Mới đây, có DN đang làm về xử lý ảnh nhưng lại hỏi thủ tục để xuất khẩu vải, nhãn vào Mỹ!” - ông Nhân tiết lộ.

Coi chừng rào cản kỹ thuật

Theo ghi nhận của phóng viên Báo Người Lao Động, sau khi TPP được chính thức ký kết vào đầu tháng 2-2016, rất nhiều DN xuất khẩu đang tìm hiểu các quy định về thủ tục, rào cản kỹ thuật để đưa hàng sang Mỹ.

Ông Lê Minh Chánh, Giám đốc HTX Thanh Long Long Trí (tỉnh Long An), cho biết đang tìm hiểu các quy định liên quan đến rào cản kỹ thuật nhằm đưa thanh long xuất khẩu qua Mỹ. Hiện thanh long của Long Trí chủ yếu xuất qua Trung Quốc nhưng không ổn định nên DN muốn tìm một thị trường mới bền vững hơn. Khó khăn lớn nhất mà ông Chánh e ngại là các quy định về rào cản kỹ thuật, an toàn vệ sinh thực phẩm (như dư lượng kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật…) ở Mỹ rất phức tạp, không dễ tìm hiểu và thực hiện.

Theo ông Trần Quốc Thanh, thành viên HĐQT Tập đoàn Lộc Trời, khoảng 2 năm nay, DN này đã xuất khẩu gạo qua Mỹ. Đây là một thị trường rất lớn, hiệu quả về mặt kinh doanh và giá tốt nhưng vướng mắc lớn nhất vẫn là rào cản kỹ thuật. Chẳng hạn, những chỉ tiêu trong MRL (mức giới hạn dư lượng thuốc bảo vệ thực vật) của cơ quan quản lý Mỹ đưa ra không rõ ràng khiến DN rất khó đáp ứng. “Thực tế, chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam không thua các nước như Thái Lan nhưng do chỉ xây dựng thương hiệu gần đây nên xuất qua Mỹ không đơn giản. Do đó, các DN trong ngành cần sự hỗ trợ nhiều hơn từ phía nhà nước” - ông Thanh mong mỏi.

Liên quan đến những rào cản kỹ thuật mà Mỹ áp dụng đối với lĩnh vực nông - thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang làm việc với Mỹ để tìm hướng giải quyết. Đại diện Thương vụ Việt Nam tại Mỹ cho biết phía Mỹ không quy định rõ hàm lượng, dư lượng chất kháng sinh cụ thể, trong khi quy chuẩn ở châu Âu và Nhật khá rõ. DN muốn xuất khẩu hàng thực phẩm, động vật vào Mỹ cần nghiên cứu kỹ nội dung trong quy định của Luật Hiện đại hóa về vệ sinh an toàn thực phẩm. Với mặt hàng thực phẩm và đồ uống, DN xuất khẩu cần lưu giữ hồ sơ từ khâu sản xuất, chế biến của từng lô hàng để truy xuất nguồn gốc khi cần. Nếu DN từ chối, không cho kiểm tra, đồng nghĩa với việc sẽ bị từ chối xuất khẩu vào Mỹ.

“Một loại quả của Việt Nam muốn được xuất sang Mỹ cần 5-6 năm. Hiện chỉ có 4 loại: thanh long, chôm chôm, nhãn và vải của Việt Nam được phép chính thức xuất sang Mỹ. Chúng tôi đang làm việc để xoài và vú sữa có tên trong danh sách trái cây được nhập khẩu thị trường này. Trong khi đó, rất nhiều DN đã liên hệ với thương vụ để xin xuất khẩu đủ loại trái cây, như: chanh tươi, chanh dây…” - ông Nhân cho biết.

Phải hiểu để làm ăn với Mỹ

Theo nhiều chuyên gia kinh tế, Mỹ là thị trường lớn, có sức tiêu thụ rất cao nhưng hiện nay, đa số DN Việt Nam quy mô vừa và nhỏ nên không đáp ứng được đơn hàng lớn. Chẳng hạn, các hệ thống siêu thị của Mỹ đều là những tập đoàn hàng đầu thế giới, như Walmart có doanh số hằng năm gần 500 tỉ USD. Muốn bán hàng cho đại siêu thị này, cần những đơn hàng lớn nhưng lại vượt quá tầm của DN Việt. Do đó, các DN muốn làm ăn với Mỹ cần tính đến chuyện liên kết, hợp tác với nhau.
Sự ra đời của sàn giao dịch thương mại điện tử B2B tại NOCNDEAL.com phục vụ riêng cho các nước thành viên TPP là một trong những giải pháp rất hữu ích để hiện thực hóa  việc xuất hàng qua Mỹ đạt chuẩn TPP. Doanh nghiệp Việt Nam tham gia sàn NOCNDEAL sẽ được chuyên gia tư vấn kỹ về TPP, những điều cần thực hiện để sản phẩm của doanh nghiệp được xác nhận đạt chuẩn TPP.

cafeF.vn 
(Sàn TMĐT B2B NOCNDEAL) Trước thách thức của dệt may Việt Nam khi chạm ngưỡng cửa Hiệp định TPP, với kinh nghiệm hơn 30 năm trong nghề, ông Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty CP May Hưng Yên, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên cho rằng, Việt Nam đang làm tốt khâu may thì chỉ nên tiếp tục làm tốt khâu đoạn này, "một nghề cho chín…"

>> Doanh Nghiệp Cần Chú Ý Đến Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Trong Thời Đại TPP
>> Tổng Thống Mỹ Obama Tin Tưởng Quốc Hội Thông Qua TPP
>> Dệt May Có 1 Chương Riêng Trong Hiệp Định TPP



Câu chuyện của dệt may trong TPP đang mở ra nhiều thách thức đối với các doanh nghiệp trong ngành. Ông nhận định như thế nào về vấn đề này?

Quy tắc chủ đạo của dệt may trong TPP là “yarn forward” hay còn gọi là “từ sợi trở đi”. Quy tắc này được hiểu một cách chung nhất là tất cả công đoạn sản xuất hàng dệt may bao gồm kéo sợi, dệt vải, nhuộm, hoàn tất và may quần áo phải được thực hiện trong nội khối TPP.

Tuy nhiên, TPP cũng chấp nhận một số mặt hàng được áp dụng quy tắc “cắt và may” đối với những sản phẩm gồm vali, túi xách, quần áo trẻ em tổng hợp…

Chính vì lẽ đó nên chúng tôi đang tìm cách triển khai đến các doanh nghiệp phải khai thác trước những lợi thế này. Lộ trình 5 năm tới sẽ cần đầu tư một số mặt hàng có lợi thế đáp ứng được yêu cầu của “yarn forward”.

Đây có phải là điểm khó nhất của doanh nghiệp dệt may khi tham gia TPP?

Đúng vậy, điều này đỏi hỏi trong vài năm tới chúng ta phải đáp ứng được vải hoàn tất, trong khi đó, hầu hết doanh nghiệp đang thiếu vốn đề đầu tư. Hai là doanh nghiệp cũng đang yếu về kỹ thuật. Do đó con đường sắp tới là phải “lôi kéo” doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư, chúng ta là người góp vốn, cổ phần, có thể “đối tác” đầu tư tới 90% vốn nhưng phải cam kết bao tiêu sản phẩm đầu ra. Đó là con đường của doanh nghiệp dệt may trong thời gian tới.

Tổng kết năm 2015, ngành Dệt may đã không đạt được mục tiêu đề ra là 27,5 tỷ USD, theo ông nguyên nhân là do đâu?

Tại sao năm 2015 tăng trưởng của dệt may cũng như một số ngành hàng khác như thủy sản không đạt mục tiêu đề ra? Theo tôi có một nguyên do khá lớn là vấn đề tỷ giá.

Trong khi các nước đều hạ giá đồng tiền so với USD, ví dụ Nhật Bản hạ giá tới 17%, châu Âu 18% nhưng Việt Nam chỉ nới room từ 2 lên 4%, cộng trừ 2 nghĩa là chỉ tăng được 2% và cộng trừ 2 thôi, đương nhiên hàng Việt Nam trở thành hàng đắt, mà đắt đương nhiên thị trường thế giới sẽ chọn hàng rẻ hơn.

Bắt đầu từ năm 2016, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện chính sách tỷ giá trung tâm, không phải theo số liệu liên ngân hàng nữa mà theo cơ chế thị trường nhưng tôi cho rằng thực sự vẫn chưa linh hoạt. Nếu so sánh với tất cả đồng tiền trong ASEAN hay những thị trường xuất khẩu lớn như Nhật Bản hay châu Âu, chúng ta đều chưa bằng.

Vậy theo ông, triển vọng 2016 đối với doanh nghiệp sẽ như thế nào?

Năm 2016 chúng tôi xác định vẫn là những khó khăn. Hiện doanh nghiệp thế giới vẫn đang tìm nơi nào cung cấp sản phẩm có giá tốt, bởi trong thương mại, giá là vấn đề đầu tiên doanh nghiệp quan tâm. Do đó, chúng ta phải làm tốt được vấn đề này.

Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng không thể trông chờ tất cả vào Nhà nước mà phải tự điều chỉnh. Điều chỉnh ở đây là nâng cao năng lực sản xuất, tăng năng suất lao động để giảm những chi phí đầu vào tăng như bảo hiểm xã hội, phí công đoàn…

Tôi cũng rất quan tâm đến vị trí của doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng hàng hóa toàn cầu. Muốn có một sản phẩm dệt may cần có nhiều công đoạn, từ trồng bông, dệt sợi đến cắt may, phân phối. Tôi cho rằng, nếu chúng ta đang làm tốt khâu may, tốt nhất vẫn nên làm tốt khâu này. Trung Quốc nhận cắt may một áo sơ mi với giá 90 xu, nếu ta nhận với giá 85 xu, ta sẽ lấy được mối hàng còn nếu nhận với giá 1 đồng thì không ai giao hàng cả. Con đường duy nhất là làm tốt một khâu nào đó trong chuỗi thì mới tham gia được trong chuỗi liên kết toàn cầu.

Cá nhân ông có kỳ vọng gì trong năm 2016?

Doanh nghiệp đang rất kỳ vọng vì thành công của Đại hội Đảng XII và tháng 5 tới sẽ bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Chắc chắn với tư tưởng đổi mới của Đại hội Đảng, nhiều vấn đề sẽ được cải cách.

Trong năm 2015 Chính phủ đã thực hiện được nhiều vấn đề cải cách. Theo đà này, nhiều lĩnh vực sẽ không chỉ đạt được tiêu chuẩn của ASEAN 6 mà có thể là ASEAN 3, có nghĩa là môi trường sẽ rất thông thoáng cho doanh nghiệp hoạt động và phát triển.

Số lượng doanh nghiệp thành lập trong năm 2015 tăng đột biến, tôi tin rằng trong năm 2016 này, sức sống của doanh nghiệp sẽ tốt hơn, doanh nghiệp sẽ đón nhận nhiều điều mới hơn trong quá trình đổi mới và phát triển của đất nước.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn: Báo Hải Quan Online
(Sàn giao dịch thương mại điện tử B2B NOCNDEAL) - Tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà Việt Nam là thành viên đòi hỏi các doanh nghiệp (DN) nói chung và đặc biệt là các DN khởi nghiệp phải đáp ứng những tiêu chuẩn cao về thương mại, sở hữu trí tuệ (SHTT), thực thi quyền SHTT. 







Theo TS. Lê Hoài Quốc- Trưởng Ban quản lý Khu công nghệ cao TP.Hồ Chí Minh, sự sống còn của một DN nói chung và DN khoa học công nghệ khởi nghiệp phải phát triển được ít nhất một tài sản trí tuệ (công nghệ, ứng dụng khoa học kỹ thuật mới, giống cây trồng...) và tài sản trí tuệ đó phải có khả năng bảo hộ độc quyền SHTT.

Ngoài ra, các DN cũng cần hỗ trợ trong việc thực hiện thủ tục kiểm định, kiểm nghiệm và lưu hành sản phẩm, hỗ trợ về sử dụng dịch vụ SHTT và tổ chức quản trị tài sản trí tuệ, kết nối thương mại và chuyển giao công nghệ, đàm phán và tham gia kênh phân phối... Nếu không khi được thị trường ưa chuộng, sản phẩm bị các đối thủ cạnh tranh có tiềm lực mạnh hơn nhảy vào đầu tư thì DN khởi nghiệp gần như không thể bảo vệ hoặc phát triển được thị phần.

Đánh giá của Hội SHTT TP.Hồ Chí Minh cho thấy trên lĩnh vực SHTT về nhãn hiệu, hiện nay, nhãn hiệu nổi tiếng của Việt Nam còn rất ít, thậm chí Việt Nam cũng chưa có bộ tiêu chí cụ thể để nhận biết như thế nào là một nhãn hiệu nổi tiếng. Trong khi các nhãn hiệu nổi tiếng của nước ngoài tại Việt Nam lại rất nhiều. Do vậy, việc trùng tên, giống nhau giữa các thương hiệu là có thể và như thế sẽ bất lợi cho DN Việt Nam. Vì thế nếu DN Việt có sản phẩm đang bán chạy tại nội địa thì phải tranh thủ đăng ký quyền SHTT trước để ngăn ngừa rủi ro về sau.

Bên cạnh đó, khi nền kinh tế tham gia ngày càng sâu vào các hiệp định thương mại tự do nhất là với hiệp định TPP khi mà các biện pháp chống cạnh tranh không lành mạnh của TPP rất mạnh, mức độ bảo hộ quyền SHTT rất lớn, chủ sở hữu quyền được bảo hộ cao hơn. Trong đó, những yếu tố về nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, sáng chế, bí mật thương mại, quyền tác giả và các quyền liên quan được xem là quan trọng hơn cả. Do đó các DN Việt Nam phải nghĩ đến tất cả những tình huống mà đối thủ cạnh tranh có thể gây ra để có sự chuẩn bị bảo vệ mình một cách hữu hiệu nhất.

TS.Nguyễn Hồng Quang - Trưởng phòng Quản lý Khoa học- Trường Đại học Quốc tế - Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh cho rằng, để thực thi quyền SHTT, các DN phải chủ động phát huy hoạt động quản trị tài sản trí tuệ của DN mình một cách hiệu quả và cần có nhân sự được đào tạo chuyên môn về quản trị tài sản trí tuệ trong DN. 

Tại TP.Hồ Chí Minh, trong giai đoạn 2011 – 2015, Sở Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với Viện Khoa học Sở hữu Trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã tổ chức Chương trình đào tạo quản trị viên tài sản trí tuệ. Đây cũng là chương trình đầu tiên trong cả nước hướng đến việc hỗ trợ các DN, trường, viện tự xây dựng hoạt động SHTT và quản trị tài sản trí tuệ trong nội bộ.

Nguồn: Báo Công Thương Điện Tử
(Sàn thương mại điện tử B2B NOCNDEAL.com) - Nhật Bản cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 86% số dòng thuế (chiếm 93,6% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản (tương đương 10,5 tỷ USD) ngay khi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có hiệu lực, và vào năm thứ 11 xóa bỏ đối với khoảng 95,6% số dòng thuế.




Đa số mặt hàng thủy sản có thế mạnh của Việt Nam được hưởng thuế suất 0% ngay sau TPP có hiệu lực như các mặt hàng cá ngừ vây vàng, cá ngừ sọc dưa, cá kiếm, một số loài cá tuyết, surimi, tôm, cua ghẹ....

Ngày 04/02/2016, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã chính thức được ký kết giữa 12 nước, gồm Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Hoa Kỳ vàViệt Nam, có quy mô kinh tế chiếm 40% GDP và 30% thương mại toàn cầu. 

Theo Bộ Tài chính, các nước tham gia TPP xóa bỏ thuế nhập khẩu cho hàng hóa của các thành viên. Đặc biệt, thị trường Nhật Bản cũng cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 86% số dòng thuế, chiếm 93,6% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản, tương đương 10,5 tỷ USD (dựa trên số liệu kim ngạch thương mại năm 2014)

Đối với nông sản từ Việt Nam, Nhật bản không cam kết mặt hàng gạo và áp dụng hạn ngạch thuế quan hoặc cắt giảm một phần hoặc cam kết kèm theo các biện pháp phòng vệ thương mại đối với một số mặt hàng nhạy cảm như thịt trâu bò, thịt lợn, sữa, sản phẩm sữa, lúa mỳ, lúa gạo và các chế phẩm phẩm của chúng.

Nhiều mặt hàng ưu tiên của Việt Nam được rút ngắn đáng kể lộ trình so với cam kết tại Hiệp định FTA Việt Nam – Nhật Bản như đa số mặt hàng thủy sản có thế mạnh của VN được hưởng thuế suất 0% ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực như các mặt hàng cá ngừ vây vàng, cá ngừ sọc dưa, cá kiếm, một số loài cá tuyết, surimi, tôm, cua ghẹ... Toàn bộ các dòng hàng thủy sản không cam kết xóa bỏ thuế trong FTA Việt Nam – Nhật Bản sẽ được xóa bỏ trong TPP với lộ trình xóa bỏ vào năm thứ 6, năm thứ 11 hoặc năm thứ 16 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.

Đối với mặt hàng rau quả, Nhật Bản cam kết mức thuế 0% vào năm thứ 3 hoặc năm thứ 5 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Mặt hàng mật ong sẽ được xóa bỏ thuế vào năm thứ 8.

Trong khi đó, đối với mặt hàng giày dép thì 79,5 % kim ngạch các xóa bỏ thuế vào năm thứ 10 và các mặt hàng còn lại (giày da) sẽ xóa bỏ thuế suất vào năm thứ 16. Mặt hàng vali, túi xách bằng da sẽ được xóa bỏ thuế vào năm thứ 16.

Bên cạnh đó, đối với mặt hàng dệt may thì 98,8% số dòng thuế sẽ xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực, tương đương 97,2% kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam sang Nhật Bản. Những mặt hàng còn lại sẽ có lộ trình xóa bỏ thuế vào năm thứ 10.

Nguồn: doanhnghiepvn
(Sàn TMĐT B2B NOCNDEAL) - Theo Bộ Công thương, Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) là hiệp định thương mại tự do đầu tiên Việt Nam tham gia có chương riêng về dệt may.




Ngoài việc áp dụng các quy định chung như các hàng hóa khác trong các chương Thương mại Hàng hóa, Quy tắc Xuất Xứ, Phòng vệ Thương mại, Hợp tác Hải quan, dệt may có những quy định riêng mang tính đặc thù bao gồm 3 nội dung chính: Mở cửa thị trường (lộ trình xóa bỏ thuế quan); quy tắc xuất xứ và biện pháp tự vệ và hợp tác hải quan. Ngoài ra, Việt Nam có 2 thỏa thuận song phương với Hoa Kỳ và Mexico về cơ chế đăng ký doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu dệt may.

Theo Bộ Công thương, dệt may là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất vào thị trường TPP, đạt 11,2 tỷ USD năm 2014 (chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của ta sang các nước TPP), trong đó xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 9,8 tỷ USD. Đây là một trong những mặt hàng được kỳ vọng sẽ hưởng lợi nhiều từ Hiệp định TPP vì Việt Nam có lợi thế cạnh tranh và thuế suất của các nước thành viên TPP mà Việt Nam chưa ký FTA đang ở mức khá cao như Hoa Kỳ 17,5%, Canada 17%, Mexico 30% và Peru 17%. Nhật Bản là thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 hiện thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi 0% nhưng cũng được kỳ vọng có khả năng tăng trưởng tốt khi hàng dệt may xuất khẩu được áp dụng linh hoạt về quy tắc xuất xứ và được phép cộng gộp xuất xứ nguyên liệu trong các nước TPP.

Về thị trường Hoa Kỳ, 73,1% số dòng thuế sẽ được đưa về 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực; 19,7% số dòng thuế sẽ được giảm thuế từ 35% đến 50% so với thuế MFN tại thời điểm Hiệp định có hiệu lực và xóa bỏ hoàn toàn vào năm thứ 11 và 13; 7,2% số dòng thuế sẽ có thuế suất bằng 0% vào năm thứ 6. Nếu tính theo kim ngạch xuất khẩu năm 2014, ngay khi hiệp định có hiệu lực, hàng dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ có khả năng tiết kiệm được 63,5% tiền thuế nhập khẩu, tương đương 1,1 tỷ USD nếu đáp ứng được quy tắc xuất xứ của Hiệp định.

Về thị trường Canada, toàn bộ mặt hàng dệt may xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sẽ được xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực hoặc sau 3 năm. 42,9% kim ngạch xuất khẩu vào Canada có thuế 0% năm đầu tiên và 57,1% kim ngạch có thuế 0% vào năm thứ 4.

Mexico và Peru là 2 nước sản xuất và xuất khẩu dệt may lớn nên duy trì chính sách bảo hộ cao đối với ngành công nghiệp này. Thuế nhập khẩu vào Mexico và Peru chỉ được xóa bỏ hoàn toàn vào năm thứ 16. Ngoài ra, Mê-hi-cô áp dụng hạn chế định lượng đối với một số mặt hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu được hưởng thuế 0% nhưng sử dụng nguyên liệu thuộc danh mục nguồn cung thiếu hụt hoặc danh mục “cắt và may” được nhập khẩu từ ngoài khu vực TPP.

Theo Bộ Công thương, hàng hóa xuất khẩu muốn được hưởng thuế suất thuế ưu đãi theo Hiệp định TPP phải đáp ứng quy tắc xuất xứ của Hiệp định này. Đối với dệt may, quy tắc xuất xứ chủ đạo là “từ sợi trở đi” hay được gọi quy tắc “3 công đoạn”, nghĩa là toàn bộ quá trình kéo sợi, dệt vải, nhuộm, hoàn tất và may quần áo phải được thực hiện trong nội khối TPP. Quy tắc này khuyến khích phát triển ngành công nghiệp dệt may theo ngành dọc, đầu tư phát triển ngành sợi, vải, tạo cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng trong nội khối TPP và khối cung ứng toàn cầu.

Tuy nhiên, Hiệp định quy định một số trường hợp có quy tắc xuất xứ linh hoạt hơn như: 3 nhóm hàng may mặc được áp dụng quy tắc xuất xứ 1 công đoạn, cắt và may, gồm: vali, túi xách, áo ngực phụ nữ, quần áo trẻ em bằng sợi tổng hợp. Danh mục nguồn cung thiếu hụt gồm 194 loại sợi, vải được phép sử dụng từ ngoài khu vực TPP, trong đó 186 mặt hàng sẽ được áp dụng vĩnh viễn và 8 mặt hàng chỉ được áp dụng cơ chế này trong 5 năm.

Ngoài ra, cơ chế 1 đổi 1 áp dụng với quần nam nữ bằng vải bông xuât khẩu sang Hoa Kỳ. Doanh nghiệp mua 1 đơn vị vải bông thích hợp làm quần có xuất xứ từ Hoa Kỳ sẽ được phép sử dụng 1 đơn vị vải bông nhập khẩu từ ngoài khu vực TPP để may quần xuất khẩu sang Hoa Kỳ và hưởng thuế 0%; tỷ lệ quy đổi giữa vải bông xuất xứ Hoa Kỳ và vải bông được phép nhập khẩu ngoài khối TPP khác nhau giữa quần nam và quần nữ...

N.Y
"Việt Nam rất có giá trong TPP" - Đây là nhận định được ông Trương Đình Tuyển, cố vấn đàm phán của Chính phủ đưa ra tại hội thảo “Cơ hội và thách thức của kinh tế Việt Nam khi Hiệp định TPP có hiệu lực” do Hội Luật gia Việt Nam phối hợp với Viện Khoa học pháp lý và kinh doanh quốc tế TBLA tổ chức chiều 19-2 tại TP.HCM.




Theo ông Trương Đình Tuyển, về kinh tế, trong tương lai Việt Nam là nước đem lại giá trị gia tăng lớn thứ 2 cho Hoa Kỳ, sau Nhật Bản. Về chiến lược, Việt Nam là một nước có trình độ thấp nhất trong các nước tham gia TPP, do đó, Việt Nam sẽ là hình mẫu để Hoa Kỳ thúc đẩy các nước khác trên vành đai Thái Bình Dương tham gia đàm phán khu vực mậu dịch tự do APEC. Ngoài ra, Việt Nam cũng có vị trí địa chính trị rất quan trọng trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, địa bàn cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, nhất là giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc.

Trên cơ sở đó, TPP mở ra những cơ hội rất lớn cho Việt Nam về các mặt thu hút đầu tư, mở rộng xuất khẩu, tiếp nhận công nghệ mới, cơ cấu lại nền kinh tế, cải thiện môi trường kinh doanh…

Tuy nhiên, song hành với cơ hội cũng là những thách thức không nhỏ. Trước tiên, đó là sự cạnh tranh quyết liệt trên cả ba cấp độ sản phẩm, doanh nghiệp và quốc gia. Trong đó cạnh tranh về chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh là yếu tố quyết định. Tiêu biểu như các sản phẩm nông nghiệp, thách thức lớn nhất vẫn là đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng chống dịch bệnh. Nếu không đảm bảo, dù thuế nhập khẩu của các nước được đưa về 0%, hàng hóa dồi dào, chủng loại phong phú nhưng chất lượng kém vẫn không xuất khẩu được.

Ông Tuyển nhấn mạnh, cơ hội tự nó không biến thành lợi ích, không tự nó biến thành sức mạnh trên thị trường. Tương tự, thách thức tuy là sức ép trực tiếp nhưng ép đến đâu còn tùy thuộc vào đối sách của chủ thể. Chủ thể ở đây là nhà nước và doanh nghiệp.

Vậy làm thế nào để tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức? Theo ông Tuyển, việc trước tiên là các cơ quan nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp phải năm vững các cam kết của Việt Nam và 11 đối tác để thực thi cho đúng. Nếu không sẽ bị kiện khi thực hiện không đúng cam kết và cũng không biết để kiện lại khi đối tác vi phạm.

Hầu hết các ý kiến tại hội thảo cũng cho rằng, vấn đề giải quyết tranh chấp là thách thức không nhỏ của Việt Nam khi tham gia TPP. Luật sư, PGS.TS Chu Hồng Thanh, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam nhận định, khi tham gia TPP, chắc chắn sẽ có những tranh chấp nảy sinh. Do đó, việc nghiên cứu sâu các quy định về giải quyết tranh chấp đã được ghi nhận trong Hiệp định TPP là một việc không thể bỏ qua.

Theo các chuyên gia, hệ thống thực thi pháp luật của Việt Nam hiện còn yếu, sự phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống chưa tốt. Đội ngũ nhân lực về pháp luật còn yếu về nhiều mặt. Do đó, ông Trương Đình Tuyển cũng cho rằng, các luật sư của Việt Nam cần thành thạo ngoại ngữ và nắm vững các cam kết trong hiệp định, trong đó đặc biệt chú ý các chương về pháp lý thể chế, đầu tư, sở hữu trí tuệ và cả WTO…; nắm vững các công ước quốc tế có liên quan đến xử lý tranh chấp được dẫn chiếu trong hiệp định…

Liên quan đến vấn đề cạnh tranh của doanh nghiệp, ông Tuyển đánh giá, chỉ số cạnh tranh toàn cầu và môi trường kinh doanh của Việt Nam đang ở mức thấp và là vùng trũng trong ASEAN. Theo báo cáo Chỉ số cạnh tranh toàn cầu năm 2015 -2016 do WEF công bố, chỉ số cạnh tranh về thể chế - một yếu tố quyết định của cạnh tranh vĩ mô, Việt Nam xếp thức 92 trong số 140 nước được xếp hạng và đứng thứ 8 trong 10 nước ASEAN (thấp hơn các nước ASEAN-6 và thấp hơn cả Lào).

Cũng theo báo cáo này, các chỉ số mà DN có vai trò quyết định đến khả năng cạnh tranh vi mô, Việt Nam có thứ hạng rất thấp: xếp thứ 99 về sự sẵn sàng về công nghệ, sự tinh thế trong kinh doanh xếp thứ 106, đổi mới sáng tạo xếp thứ 87. Về môi trường kinh doanh, theo đánh giá của WB, năm 2015, Việt Nam xếp thứ 78, tụt 6 hạng so với năm 2014.

Từ thực tế đó, ông Trương Đình Tuyển cho rằng, để cải thiện môi trường kinh doanh, yếu tố quyết định chính là cải cách thể chế để nâng cao năng lực cạnh tranh vĩ mô.

Theo CafeF.vn
Những ngày cuối cùng của năm 2015, dù bận nhiều công việc nhưng những người tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) vẫn dành thời gian để tham gia các cuộc phổ biến nội dung của TPP cho DN và cả các cơ quan truyền thông từ trong Nam cho đến ngoài Bắc.

Các nhà lãnh đạo của các nước tham gia đàm phán TPP nhóm họp tại Bắc Kinh, Trung Quốc ngày 10-10-2014. (Ảnh: AFP)

Thông thương bằng những con kênh lớn

Ông Lương Hoàng Thái, Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương), Phó Trưởng đoàn đàm phán TPP chia sẻ, trước đây, Việt Nam thường tham gia hội nhập với tư cách “người đến sau”, chọn sân chơi mang tính vừa phải trong khu vực, nòng cốt là ASEAN, tính chủ động trong việc lựa chọn đối tác không có. Tuy nhiên, đến năm 2015 quá trình hội nhập đã có bước thay đổi, phần lớn những Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam tham gia đều mang tính chủ động cao trong việc lựa chọn đối tác, sao cho có lợi nhất cho mình. “Khi gia nhập WTO, chúng ta gọi là đi ra biển lớn, có một quy định chung áp dụng cho các nước. Nhưng thời gian gần đây, động lực thúc đẩy thương mại thế giới trong WTO bắt đầu chững lại. Trong nhiều năm qua, hầu như WTO không đưa ra kết quả nào về thúc đẩy thương mại. Vì vậy, các nước có sự suy tính đổi cách chơi mới là hình thành các FTA với quy mô lớn. Thay vì cách chơi ra biển lớn, chúng ta lại đào những con kênh thông thương thị trường với nhau - những con kênh lớn”, ông Thái nói.

“Con kênh” được nhắc đến nhiều nhất, quan tâm nhiều nhất, tác động lớn nhất là TPP bởi đây là Hiệp định có quy mô thương mại, kinh tế chiếm gần 40% GDP toàn cầu, đồng thời là Hiệp định mở tạo tiêu chuẩn mới cho các nước tham gia. TPP là Hiệp định tương đối phức tạp, nội dung cam kết sâu gồm 30 chương khác nhau với nhiều nội dung cụ thể.

Ông Thái nhìn nhận, khi nói đến một FTA, phần đầu tiên người ta nghĩ đến là các nước mở cửa thị trường cho nhau thế nào. Với TPP, nội dung Việt Nam quan tâm nhất là phần mở cửa thị trường hàng hóa. “Đối với các lĩnh vực mở cửa thị trường khác như dịch vụ, đầu tư, mua sắm công…, Việt Nam cũng có những lợi ích nhưng ở mức hạn chế hơn rất nhiều, lợi ích của Việt Nam chủ yếu nằm ở việc các nước mở cửa cho thị trường hàng hóa như thế nào”, ông Thái khẳng định.

Điều gì gây tranh cãi lớn nhất?

Rất nhiều người tò mò muốn biết, nội dung gây tranh cãi lớn nhất trong quá trình đàm phán TPP là gì bởi Hiệp định này có khá nhiều nội dung mới đối với Việt Nam như mua sắm Chính phủ, DN Nhà nước, hay lao động...? Ông Thái cho biết, lao động cũng là lĩnh vực đàm phán tương đối khó khăn. “Hiện Trung ương đang họp và đây là lần đầu tiên Trung ương xem xét một Hiệp định trước khi ký kết và phê chuẩn”. Trong khi các nước TPP không có vấn đề gì bởi TPP chỉ đặt ra tiêu chuẩn đối với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), thì riêng Việt Nam có nội dung công đoàn tương đối khác với các nước. Việt Nam chỉ có một tổ chức là Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam mà không có nhiều tổ chức lao động như các nước. Cuối cùng, đoàn đàm phán đã đạt được thỏa thuận duy trì cơ chế chỉ có một Tổng Liên đoàn Lao động, tổ chức chính trị - xã hội duy nhất trong nội dung này. Theo đó, Việt Nam cho phép thành lập tổ chức đại diện cho người lao động tại cơ sở (tức DN) để người lao động đạt được đàm phán tốt nhất với giới chủ. Tuy nhiên, đây không phải là vấn đề gây tranh cãi lớn nhất.

Theo “tiết lộ” của những người đi đàm phán, nội dung gây tranh cãi lớn nhất của các nước và cũng “thời điểm nút thắt” của TPP là đàm phán về quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có vấn đề bảo hộ đối với dược phẩm bởi đây là mặt hàng cực kỳ nhạy cảm với tất cả các nước. Chính sách tác động đến mặt hàng này có thể tác động đến giá thuốc, từ đó tác động đến quyền tiếp cận thuốc của người nghèo. Vì vậy, đã có sự tranh cãi cao giữa các nước phát triển muốn đặt tiêu chuẩn cao, đặc biệt là trong việc bảo hộ dữ liệu thử nghiệm của dược phẩm đó. “Cuối cùng, chúng ta đạt cam kết hợp lý là duy trì chế độ áp dụng trước đây đã bảo hộ trong FTA song phương với Mỹ. Nhưng tới đây khi kinh tế phát triển, 15 năm nữa chúng ta mới phải thực thi tiêu chuẩn cao hơn”, ông Thái khẳng định.

Đặc biệt, ở gần vòng đàm phán cuối cùng, riêng chương sở hữu trí tuệ có trên 100 vấn đề chỉ có Việt Nam “vướng”, trong đó có nhiều vấn đề liên quan cách làm của chúng ta tương đối khác. Ví dụ, mảng lớn nhất là xử lý vi phạm sở hữu trí tuệ như thế nào. Trước đây chúng ta hay dùng công cụ hành chính, rất ít khi vi phạm sở hữu trí tuệ đưa ra tòa, thậm chí có những trường hợp thanh tra Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch vào kiểm tra phần mềm DN có vi phạm bản quyền hay không và phạt tại chỗ. Cách làm của chúng ta tiện, nhanh song không có quy trình để các bên tranh tụng như tại tòa án. Do vậy, với TPP chúng ta sẽ phải thay đổi để phù hợp với cách làm chung.

Dệt may “ẵm” thêm 250 triệu USD

Trong lĩnh vực hàng hóa, dệt may là mối quan tâm rất lớn của Việt Nam, thậm chí nhiều người còn đánh giá đây là lợi ích cốt lõi của Việt Nam khi tham gia TPP. Chẳng thế mà trong TPP có riêng một chương về dệt may. Tuy nhiên, XK dệt may của Việt Nam hiện đang bị các nước đánh thuế rất cao. Ví dụ như thị trường Mỹ, XK dệt may sang Mỹ mỗi năm phải đóng tới 1,4 tỷ USD tiền thuế NK, chưa kể mặt hàng giày dép phải đóng hơn 300 triệu USD. Như vậy, chỉ riêng 2 mặt hàng này tiền thuế mà DN Việt Nam phải đóng cho Mỹ đã lớn hơn cả tiền thuế tất cả các nước tham gia TPP phải đóng khi XK vào Mỹ, dù họ còn XK nhiều hơn Việt Nam. Chính vì vậy, trong quá trình đàm phán, đoàn đàm phán quyết tâm bãi bỏ rào cản này để Mỹ đưa thuế dệt may về 0% thay vì mức thuế trung bình trên 17% như hiện nay. Song đổi lại, Mỹ cũng có quan ngại, e sợ hàng dệt may lấy nguồn từ nguồn khác vào Việt Nam, nhất là những nước láng giềng nên họ muốn có quy tắc xuất xứ chặt. Theo đó, Việt Nam phải làm được hàng dệt may từ sợi trở đi nếu muốn được hưởng ưu đãi thuế. “Tất nhiên, cũng có một số linh hoạt chúng ta đàm phán được với một số sản phẩm mà trong TPP có nguồn cung thiếu hụt có thể NK”, ông Thái cho hay.

Có một thông tin đáng chú ý của ngành dệt may có lẽ không phải ai cũng được biết nếu không có sự chia sẻ của ông Lương Hoàng Thái: “Giai đoạn kết thúc đàm phán cuối cùng TPP, anh em trong đoàn đàm phán tưởng là kết quả rất tốt rồi, tiết kiệm 850 triệu USD thuế dệt may trên tổng số 1,4 tỷ USD tiền thuế Mỹ thu hàng năm. Tuy nhiên, khi mang kết quả về, Thủ tướng bảo không được, rồi “gọi” Đại sứ Mỹ lên và “kéo” Tổng thống Obama ở Hội nghị ASEAN để... đấu tranh. Cuối cùng, chúng ta thỏa thuận thêm 250 triệu USD, tức là tiết kiệm cho dệt may 1,1 tỷ USD và kết thúc đàm phán thành công”.

Có thể thấy, TPP kết thúc đàm phán là nỗ lực của tất cả các bên tham gia, đặc biệt là vòng đàm phán cuối cùng tại Hawaii (Mỹ) với những thỏa thuận nói trên đạt được vào phút chót. Cảm xúc của ông Thái khi nói về TPP có lẽ cũng là cảm xúc của nhiều người đã từng tham gia đàm phán: “Với những người làm công tác hội nhập kinh tế quốc tế, trong năm 2015 có rất nhiều kỷ niệm, trong đó có những kết quả ghi dấu ấn chỉ đạo trực tiếp từ Chính phủ. Đây là những kỷ niệm chưa bao giờ trong đời được chứng kiến!”.
Phản ánh khả năng cạnh tranh của nền kinh tế song Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng bản thân doanh nghiệp không thể tự lực hội nhập nếu không được Nhà nước hỗ trợ, tạo lập môi trường làm ăn thông thoáng, minh bạch.


Nhân sự kiện Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vừa được ký kết mà Việt Nam là một trong 12 quốc gia thành viên, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa có bài viết nhìn nhận về những ý nghĩa, cơ hội cũng như thách thức mà hiệp định này tạo ra. Bên cạnh đó, lãnh đạo cao nhất của cơ quan điều hành cũng chỉ rõ những việc phải làm của hai chủ thể chính là Nhà nước và doanh nghiệp để chủ động hội nhập thành công.

tppagreement.blogspot.com xin giới thiệu toàn văn bài viết này:

Ngày 4/2/2016, Hiệp định TPP đã được ký kết giữa 12 nước, gồm Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Hoa Kỳ và Việt Nam, có quy mô kinh tế chiếm 40% GDP và 30% thương mại toàn cầu. Đây là một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới – được kỳ vọng trở thành hình mẫu cho phát triển thương mại khu vực và thế giới với yêu cầu cao hơn trong bối cảnh lực lượng sản xuất phát triển rất nhanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Thủ tướng cho rằng kết quả đạt được với TPP bắt nguồn từ quá trình đổi mới suốt 30 năm qua. Ảnh: Bloomberg

Việc Việt Nam ký hiệp định TPP không chỉ là kết quả của quá trình 5 năm kiên trì đàm phán với tinh thần vừa hợp tác vừa đấu tranh, lấy lợi ích quốc gia dân tộc làm mục tiêu cao nhất. Sâu xa hơn, đây là thành quả của tiến trình 30 năm đổi mới, trong đó hội nhập kinh tế quốc tế là một nội dung quan trọng, ngày càng được khẳng định mạnh mẽ và kiến giải sâu sắc qua các nghị quyết của Đảng. Đây còn là những trải nghiệm rút ra từ thực tiễn hội nhập của nước ta sau khi ký kết và thực thi Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN, các hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN với các đối tác và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)… Hội nhập kinh tế quốc tế còn là một nội hàm quan trọng trong thể chế kinh tế thị trường hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng.

Thực hiện chủ trương tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, trong các nhiệm kỳ Đại hội X và XI, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng đã chấp thuận đề nghị của Chính phủ về đàm phán tham gia một số hiệp định Thương mại tự do mới. Đây là những hiệp định có mức độ cam kết mở cửa thị trường cao hơn cam kết trong WTO và các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký trước đây. Đặc biệt, TPP và FTA với EU là những hiệp định toàn diện, cân bằng lợi ích, với những cam kết mở cửa thị trường sâu rộng cả về thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở mức cao và những cam kết về thể chế kinh tế thị trường, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm công… nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh minh bạch và cạnh tranh công bằng. Các hiệp định này còn bao gồm các nội dung tuy không phải là thương mại trực tiếp nhưng có liên quan đến thương mại như môi trường và lao động. Với những nội hàm chủ yếu nêu trên, TPP cùng với FTA Việt Nam - EU được gọi là hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

TPP là hiệp định tiếp cận thị trường toàn diện, bảo đảm sự dịch chuyển tự do ở mức độ cao hơn của hàng hóa, dịch vụ, vốn và công nghệ thông qua việc cam kết loại bỏ nhanh thuế xuất khẩu, nhập khẩu và rào cản phi quan thuế; tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, không phân biệt đối xử; tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư, qua đó đem lại lợi ích nhiều hơn cho sản xuất kinh doanh, người lao động cũng như người tiêu dùng.

TPP sẽ thúc đẩy hình thành mạng sản xuất và chuỗi cung ứng mới trong thị trường 12 nước thành viên; tạo điều kiện để phát triển mạnh thương mại nội khối; nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, hỗ trợ mục tiêu tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người dân; góp phần giải quyết những thách thức trong nền kinh tế đương đại, khuyến khích đổi mới, sáng tạo, phát triển nền kinh tế số, xây dựng chính sách cạnh tranh và quy tắc hoạt động của doanh nghiệp nhà nước cũng như bảo vệ các quyền cơ bản của người lao động và bảo vệ môi trường.

Hiệp định còn có các quy định bảo đảm cơ hội để các nền kinh tế thành viên có trình độ phát triển khác nhau và doanh nghiệp thuộc mọi quy mô đều có thể được hưởng lợi; giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa vượt qua thách thức, tận dụng cơ hội để phát triển. TPP cũng bao gồm các cam kết về hỗ trợ kỹ thuật, nâng cao năng lực và có sự linh hoạt về lộ trình thực thi, phù hợp với sự khác biệt về trình độ phát triển để các bên có khả năng đáp ứng cam kết và tận dụng đầy đủ lợi ích của hiệp định. Đồng thời, quy định cơ chế giám sát thực thi và chế tài xử lý các vi phạm.

TPP tôn trọng thể chế chính trị của mỗi nước; thừa nhận yêu cầu phải tuân thủ đầy đủ pháp luật quốc gia, phù hợp với các cam kết quốc tế và không bao gồm các nội dung liên quan đến quốc phòng, an ninh. Hiệp định cũng được kỳ vọng là tạo ra một nền tảng mới cho hội nhập kinh tế khu vực và tạo cơ hội cho các quốc gia khác trên vành đai châu Á - Thái Bình Dương tham gia.

Trong điều kiện trình độ phát triển của nền kinh tế còn thấp và còn nhiều khó khăn, việc chủ động quyết định tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đặc biệt là TPP với tinh thần sẵn sàng chấp nhận cạnh tranh, nỗ lực vượt qua thách thức, tranh thủ cơ hội để vươn lên phát triển nhanh và bền vững, thể hiện bản lĩnh chính trị, tư duy sắc bén và tầm nhìn thời đại của Đảng và Nhà nước ta. Đây còn là sự khẳng định niềm tin vào ý chí, khả năng và sức mạnh của con người, của dân tộc Việt Nam.

TPP cùng FTA với EU sẽ mang lại nhiều cơ hội thuận lợi nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn thách thức đối với nước ta.

Các hiệp định này sẽ tạo thêm xung lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong thu hút đầu tư và thúc đẩy xuất khẩu với các nền kinh tế lớn nhất thế giới, trong đó EU gồm 28 thành viên với GDP trên 18.000 tỷ USD và TPP hiện có 12 thành viên với GDP trên 20.000 tỷ USD. Đây là những khu vực có công nghệ nguồn, thị trường xuất khẩu và thu hút đầu tư lớn nhất của Việt Nam liên tục trong nhiều năm qua. Nếu tính đến tác động cộng hưởng của các hiệp định này với các FTA đã ký hoặc đang đàm phán, cơ hội còn lớn hơn nhiều vì nước ta sẽ có quan hệ thương mại tự do với 55 quốc gia, trong đó có 15 nước thuộc nhóm G20.

Xuất khẩu và đầu tư có vai trò quyết định cho tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, nâng cao đời sống dân cư, nhất là trong điều kiện thu nhập bình quân đầu người và tiêu dùng nội địa của nước ta còn thấp. Tăng tỷ trọng xuất nhập khẩu với các thị trường này cũng làm cho quan hệ thương mại với các nước cân bằng hơn. Những cam kết trong các hiệp định là những khung khổ, chuẩn mực để góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại và thúc đẩy tiến trình tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Tham gia các hiệp định này còn là một bước tiến mới trong thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, nhất là tại một khu vực đang diễn ra cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt.

Cùng với những cơ hội thuận lợi, các hiệp định này cũng đặt ra những khó khăn thách thức không nhỏ. Đó là, cạnh tranh sẽ diễn ra quyết liệt không chỉ ở thị trường các nước tham gia Hiệp định mà ngay tại thị trường trong nước trên cả ba cấp độ: sản phẩm, doanh nghiệp và quốc gia – đặc biệt là cạnh tranh về chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh.

Trước sức ép cạnh tranh, một số doanh nghiệp sau thời gian chuyển đổi, tái cơ cấu nếu không vươn lên được có thể phải giải thể hoặc phá sản, một bộ phận người lao động sẽ mất việc làm; khu vực nông nghiệp và nông dân dễ bị tổn thương; khoảng cách giàu nghèo sẽ bị doãng ra nếu chúng ta không thực hiện hiệu quả chiến lược phát triển nhanh, bền vững và bảo đảm cho mọi người dân đều được hưởng thành quả của tăng trưởng.

Thách thức về thực thi cũng rất lớn, từ hoàn thiện hệ thống pháp luật đến đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực cán bộ, công chức, chuyên gia kỹ thuật và pháp lý. Nội dung về lao động - công đoàn cũng đặt ra những thách thức và yêu cầu mới trong hoạt động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và cả hệ thống chính trị của nước ta.

Bên cạnh thời cơ, hội nhập cũng là thách thức lớn với doanh nghiệp Việt Nam. Ảnh: Reuters


Cần nhận thức sâu sắc rằng, cơ hội thuận lợi tự nó không chuyển thành sức mạnh kinh tế, lợi ích và khả năng cạnh tranh trên thị trường mà phải thông qua sự nỗ lực và hiệu quả hoạt động hướng đích của các chủ thể – Nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Khó khăn thách thức sẽ là sức ép không nhỏ nhưng mức độ ảnh hưởng đến đâu phụ thuộc vào năng lực ứng phó của từng chủ thể.

Nếu tận dụng tốt cơ hội thuận lợi sẽ đẩy lùi được khó khăn thách thức, tạo ra cơ hội thuận lợi mới lớn hơn; ngược lại, khó khăn thách thức sẽ lấn át, chúng ta sẽ bị thua thiệt và rất khó khắc phục. Điều cần nhấn mạnh là, trong các hiệp định thương mại tự do, cơ hội luôn đi liền với thách thức và trong thách thức luôn ẩn chứa cơ hội – đây cũng là biện chứng của tiến trình phát triển.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, với việc hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN, tham gia các hiệp định FTA mới, nhất là các hiệp định thế hệ mới – TPP và FTA với EU; và trong điều kiện công nghệ thông tin, Internet phát triển bùng nổ, các giao dịch xuyên biên giới ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong thương mại, dịch vụ toàn cầu; cùng với những tiến bộ trong vận tải đa phương thức và dịch vụ logistics, ranh giới giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài gần như bị san phẳng.

Hệ quả là, các mô hình công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu hoặc hướng về xuất khẩu không còn nguyên ý nghĩa kinh điển của nó. Nhiều quốc gia chuyển sang mô hình công nghiệp hóa dựa trên sức cạnh tranh, khai thác và tạo lập lợi thế so sánh, chuyển lợi thế so sánh thành lợi thế cạnh tranh, tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu; đồng thời phấn đấu chiếm lĩnh các công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị đó.

Để tận dụng cơ hội thuận lợi, vượt qua khó khăn thách thức, yêu cầu cấp bách hiện nay là phải nâng cao năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế. Trong đó, cần xác định rõ vai trò và hành động của các chủ thể trong thực thi nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định này.

Doanh nghiệp là chủ thể quyết định sức cạnh tranh vi mô, phản ảnh sức mạnh và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Doanh nghiệp phải dũng cảm chấp nhận cạnh tranh và phải chủ động, sáng tạo thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp để không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ do mình cung ứng, với tư duy không chỉ giới hạn tại thị trường trong nước mà còn vươn ra khu vực và thế giới. Tuy vậy, doanh nghiệp không thể tự mình quyết định được tất cả. Doanh nghiệp phải hành động trong khung khổ thể chế và môi trường kinh doanh xác định. Điều này lại hoàn toàn phụ thuộc vào Nhà nước.

Nhiều nghiên cứu và từ thực tiễn các nước đều khẳng định rằng, thể chế quản trị quốc gia là yếu tố quyết định nhất đến sức cạnh tranh vĩ mô và sự phát triển của một nền kinh tế. Phát triển nhanh và bền vững hay trì trệ, tụt hậu chủ yếu là do chất lượng thể chế. Thể chế tốt, bảo đảm nhà nước pháp quyền, quyền dân chủ của người dân và phù hợp với kinh tế thị trường hiện đại sẽ khơi dậy được cao nhất sức mạnh tổng hợp và các nguồn lực cho sự phát triển. Và như vậy, thể chế có vai trò quyết định đến hiệu quả và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Để có một thể chế tốt, chất lượng cao, phải xác định đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường, doanh nghiệp và xã hội. Nhà nước phải thực hiện tốt chức năng kiến tạo phát triển, nhất là ổn định kinh tế vĩ mô; xây dựng hệ thống pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch và tổ chức bộ máy quản lý để tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, bảo đảm quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh công bằng; sử dụng nguồn lực của Nhà nước, các chính sách và công cụ điều tiết để phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và đời sống người dân; bảo vệ môi trường; bảo đảm các dịch vụ công thiết yếu, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, đào tạo nguồn nhân lực và tăng cường tiềm lực quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Thị trường quyết định việc huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực. Doanh nghiệp được tự quyết định kinh doanh trên các lĩnh vực mà luật pháp không cấm đồng thời phải đề cao trách nhiệm xã hội và văn hóa kinh doanh. Xã hội – thông qua người dân và các Tổ chức, các Hội nghề nghiệp đại diện cho mình và các chuyên gia, các nhà nghiên cứu độc lập để đóng góp xây dựng, phản biện và giám sát thực thi chính sách, nhằm hạn chế các khiếm khuyết của thị trường và Nhà nước.

Trên cơ sở nhận thức đúng đắn các mối quan hệ trên đây, chúng ta phải khẩn trương tiếp tục hoàn thiện thể chế, hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế và cam kết trong các hiệp định FTA, nhất là các FTA thế hệ mới với tinh thần đổi mới toàn diện, đồng bộ cả kinh tế và chính trị. Tập trung mọi nỗ lực xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân và thượng tôn pháp luật. Công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm. Cán bộ công chức chỉ được làm và phải làm những việc theo quy định của pháp luật.

Tiếp tục cải cách bảo đảm sự tương thích, đồng bộ giữa luật pháp, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức. Tổ chức trùng lắp, chồng chéo sẽ gây lãng phí nguồn lực và cản trở sự phát triển. Phải dám chấp nhận đổi mới, vượt qua sức ỳ, sự bảo thủ để hoàn thiện hệ thống tổ chức lãnh đạo quản lý, nâng cao năng lực quản trị quốc gia, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới.

Đặt việc cải thiện môi trường kinh doanh trong yêu cầu cải cách thể chế. Thể chế tạo ra khung khổ, định ra giới hạn cho cải thiện môi trường kinh doanh. Không thể có môi trường kinh doanh tốt nếu không có thể chế phù hợp. Những tiến bộ trong cải cách thể chế phải được chuyển hóa đầy đủ sang cải thiện môi trường kinh doanh. Điều này không chỉ liên quan đến tổ chức bộ máy mà còn gắn chặt với chất lượng đội ngũ cán bộ công chức. Phải tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất và năng lực, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Đặc biệt quan tâm đào tạo một đội ngũ cán bộ pháp lý, các nhà quản trị doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập, cạnh tranh và phát triển.

Chỉ trên nền tảng đổi mới thể chế quản trị quốc gia phù hợp mới có thể nâng cao chất lượng, hiệu quả của tiến trình tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đẩy nhanh áp dụng khoa học công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế. Cũng chỉ trên cơ sở đổi mới thể chế phù hợp mới tạo điều kiện cho quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất, hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn và một nền nông nghiệp sạch, có giá trị gia tăng cao, ổn định nguồn cung để có thể tăng nhanh thị phần trên thị trường thế giới. Nếu không, sẽ không tận dụng được cơ hội thuận lợi do TPP, FTA với EU và các FTA mới mang lại.

TPP cũng như FTA với EU yêu cầu doanh nghiệp nhà nước phải công khai, minh bạch hoạt động và cạnh tranh công bằng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Phải đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước đồng thời khuyến khích phát triển mạnh doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp tư nhân làm động lực nâng cao sức cạnh tranh và tính tự chủ của nền kinh tế.

Để bảo đảm thành công trong hội nhập quốc tế và thực hiện hiệu quả các FTA, đặc biệt là TPP và FTA Việt Nam - EU, trước hết phải có Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chương trình hành động cụ thể của Chính phủ, các cấp các ngành và của cộng đồng doanh nghiệp. Phải làm tốt công tác thông tin truyền thông, tạo sự đồng thuận trong nhận thức, thống nhất trong hành động, nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh, đưa nền kinh tế nước ta phát triển nhanh và bền vững. 

Chúng ta đang sống trong một thời đại vận động và phát triển rất nhanh, thế giới đang bước vào làn sóng công nghiệp lần thứ tư, tiến trình công nghiệp hóa ngày càng được rút ngắn. Nếu có quyết tâm cao và ý chí vươn lên mạnh mẽ, tinh thần sáng tạo và chiến lược tăng trưởng đúng đắn, nước đi sau có thể đuổi kịp và vượt quốc gia đã có trình độ phát triển cao hơn và những doanh nghiệp mới, quy mô nhỏ có thể nhanh chóng trở thành những doanh nghiệp lớn.

Tham gia các hiệp định này, Việt Nam còn có thêm cơ hội nâng cao hiệu quả kinh tế nhờ tăng quy mô, tạo điều kiện hình thành những doanh nghiệp lớn đồng thời với xu thế cá thể hóa doanh nghiệp. Đây cũng là cơ hội để nuôi dưỡng tinh thần đổi mới, sáng tạo, khuyến khích phong trào khởi nghiệp của mọi người dân và nâng tầm trình độ phát triển của nền kinh tế.

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cộng đồng doanh nghiệp hãy nêu cao niềm tự hào dân tộc, chung sức đồng lòng, chủ động khai thác và phát huy tốt nhất cơ hội thuận lợi, nỗ lực vượt qua khó khăn thách thức trong hội nhập, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, tiến cùng thời đại, sánh vai với các cường quốc năm châu như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu hằng mong muốn.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
TPP không phải miếng bánh người này ăn sẽ không còn phần người khác, mà giống như nồi cơm Thạch Sach luôn đầy đặn, quan trọng là phải có đủ sức để ăn và ăn được nhiều, Trưởng phòng FTA thuộc VCCI Phùng Thị Lan Phương ví von.
Bà Phùng Thị Lan Phương trao đổi với VnExpress về cơ hội và thách thức với doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), sau khi vòng đàm phán cuối cùng kết thúc thành công. Phòng FTA là đơn vị trực thuộc Trung tâm WTO và Hội nhập của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) là đầu mối cung cấp thông tin liên quan đến các Hiệp định thương mại tự do theo nhu cầu của doanh nghiệp; thực hiện tư vấn, hướng dẫn hiệp hội, doanh nghiệp xử lý các vụ việc trong hội nhập và tổ chức các hoạt động để tham vấn với Chính phủ trong đàm phán, thực thi các cam kết thương mại quốc tế nhằm bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp.

- Đàm phán TPP vừa kết thúc trong sự phấn khích của Bộ trưởng Thương mại 12 nước. Bà nhìn nhận thế nào về sự kiện này?

- Ngày 5/10/2015 được coi là kỳ tích mới của Việt Nam trên chặng đường hội nhập. Chúng ta đều biết FTA ký với một đối tác đã mở ra nhiều cơ hội. Tham gia TPP là chơi với 12 nước, trong đó có Mỹ, Canada, Mexico, Peru - những quốc gia Việt Nam chưa có FTA, do đó cơ hội là cực kỳ lớn. Đàm phán kết thúc sớm ngày nào thì tốt cho nền kinh tế và doanh nghiệp ngày đó.

TPP cũng là đàm phán khó khăn nhất từ trước tới nay đối với Việt Nam. Đây được đánh giá là hiệp định tiêu chuẩn cao nhất trên thế giới. Trong khi đó, Việt Nam lại là thành viên kém phát triển nhất, nhưng chúng ta đã dám chơi, chủ động chơi và là một trong những thành viên đàm phán tích cực. Điều này cho thấy quyết tâm hội nhập và đổi mới của Việt Nam.

Với việc TPP hoàn tất đàm phán, cùng với FTA Việt Nam - EU, 3 FTA vừa mới ký với Lào, Liên minh kinh tế Á - Âu, Hàn Quốc và Cộng đồng Kinh tế ASEAN được thành lập vào cuối năm nay, có thể nói năm 2015 được đánh giá là bước ngoặt, dấu mốc mới cho giai đoạn hội nhập mới của Việt Nam.

Bà Phùng Thị Lan Phương, Trưởng phòng FTA. 

- TPP khác gì so với WTO và các FTA Việt Nam đã ký?

- WTO giống như một hiệp định nền cho các quốc gia tham gia vào sân chơi chung toàn cầu, từ đó, nếu một số nước muốn chơi riêng, tạo thuận lợi hơn cho thương mại của nhau thì sẽ ký FTA. Chẳng hạn như với các cam kết về hàng hóa, theo WTO, Việt Nam dỡ bỏ 30% số dòng thuế trong biểu thuế. Với các FTA đã ký, tỷ lệ này là 80-90%.

Tiêu chuẩn của TPP cao hơn nữa. Với hàng hóa, các nước cam kết mở cửa gần 100% các dòng thuế. Và không chỉ hàng hóa, các cam kết về dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ… trong hiệp định cũng rất cao. TPP còn bao gồm cả những vấn đề chưa từng xuất hiện trong một FTA như doanh nghiệp nhà nước.

Vị thế của Việt Nam khi tham gia Hiệp định này cũng khác. Với WTO trước đây, Việt Nam đứng trên cương vị xin gia nhập và đàm phán với các nước, họ đồng ý mới được vào và phải chấp nhận những quy tắc có sẵn trong WTO. Đối với TPP, Việt Nam hoàn toàn chủ động khi là thành viên tham gia ngay từ đầu, có quyền đưa ra đề xuất để cùng đàm phán, trao đổi.

- Quá trình đàm phán diễn ra 5 năm và tưởng chừng có lúc bế tắc, theo bà nguyên nhân tại sao?

- TPP bao gồm 12 nước có trình độ phát triển khác nhau nên cần nhiều thời gian để tìm được tiếng nói chung. Bên cạnh đó, hiệp định có quá nhiều vấn đề, tổng cộng TPP có tới 30 chương bao trùm từ thương mại, dịch vụ, đầu tư, và cả những vấn đề rất mới so với các FTA truyền thống trước đây như lao động, môi trường, doanh nghiệp nhà nước. Đây là lý do khiến đàm phán kéo dài và có lúc tưởng chừng bế tắc.

Đàm phán TPP cũng là đàm phán duy nhất có rất nhiều các cuộc gặp mặt lãnh đạo, các phiên họp của các Bộ trưởng các nước thành viên. Điều đó cho thấy hiệp định bao gồm rất nhiều vấn đề phức tạp, nhạy cảm mà chỉ có thể giải quyết được ở cấp lãnh đạo.

- Tại sao Việt Nam - một quốc gia có thu nhập trung bình thấp lại được mời tham gia hiệp định thế kỷ này?

- Việc mời Việt Nam tham gia và chúng ta chấp nhận cuộc chơi này có thể giúp TPP lôi kéo thêm nhiều thành viên, bởi một nước có xuất phát điểm thấp mà vẫn dám chơi thì không lý gì các nước khác lại không gia nhập.

- TPP sẽ mang đến cơ hội như thế nào cho nền kinh tế?

- Với hàng rào thuế quan được gỡ bỏ gần 100%, thương mại hàng hóa giữa Việt Nam với các nước thành viên TPP chắc chắn sẽ được gia tăng đáng kể.

Còn về đầu tư, thực hiện TPP sẽ khiến môi trường kinh doanh của Việt Nam cải thiện theo hướng minh bạch, công bằng và thuận lợi hơn cho cả các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Điều này sẽ giúp tăng cường thu hút vốn ngoại, đặc biệt là từ các nước TPP, trong đó có Mỹ.

Bên cạnh đó, các nhà đầu tư còn nhìn thấy ở Việt Nam 16 FTA mà chúng ta đã ký hoặc đang đàm phán. Cơ hội cho họ không chỉ là ở riêng thị trường các nước TPP mà cả các thị trường mà chúng ta đã có FTA. Chẳng hạn như nếu nhà đầu tư đầu tư sản xuất hàng hóa tại Việt Nam thì khi xuất khẩu sang thị trường các nước ASEAN, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ… cũng được hưởng ưu đãi thuế quan từ các FTA này.

Một cơ hội khác có thể không đo đếm được bằng tiền nhưng lợi ích lại thực sự rất lớn, đó là TPP sẽ là một động lực, một sức ép hợp lý để Việt Nam cải cách thể chế. Bởi nếu thực thi TPP, Việt Nam sẽ phải sửa đổi rất nhiều các quy định pháp luật trong nước, khiến cho môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng và thuận lợi hơn cho các doanh nghệp…

Sau WTO, tôi kỳ vọng TPP sẽ tạo ra làn sóng cải cách thể chế lần thứ hai, biến áp lực từ bên ngoài thành động lực cải cách ở bên trong. Kết quả là nền kinh tế và các doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi.

TPP sẽ mang lại lợi ích lớn, không đo đếm được bằng tiền là thể chế, môi trường kinh doanh được cải cách. Ảnh: Quý Đoàn

- Vậy còn thách thức thì sao?

- Cái gì cũng có hai mặt, và FTA là một cuộc chơi có đi có lại, có cơ hội và cả thách thức. Chẳng hạn như đối tác dành cho ta các cơ hội về tiếp cận thị trường, thì đổi lại ta cũng phải mở cửa thị trường cho họ, khi đó sẽ là thách thức đối với doanh nghiệp trong nước khi phải cạnh tranh với hàng hóa và dịch vụ từ nước ngoài.

Còn về đầu tư, cũng có ý kiến cho rằng miếng bánh to của TPP sẽ thuộc về các doanh nghiệp ngoại (FDI), bởi họ có nguồn lực mạnh và khả năng tận dụng FTA tốt hơn. Còn các doanh nghiệp trong nước, với trên 90% là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, sẽ chỉ giành được miếng bánh nhỏ và siêu nhỏ. Tuy nhiên, theo tôi miếng bánh TPP giống như nồi cơm Thạch Sanh, không phải FDI ăn hết thì không còn gì cho doanh nghiệp nội địa, mà miếng bánh sẽ luôn đầy đặn cho cả hai, vấn đề là có đủ điều kiện để được ăn và ăn được nhiều hay không.

Dĩ nhiên, trong quá trình đó, doanh nghiệp nào làm không đúng cách thì sẽ bị tổn hại, doanh nghiệp đúng cách thì phát triển thịnh vượng. Suy cho cùng đó cũng là một hình thức sàng lọc tự nhiên, chúng ta đã tham gia vào sân chơi toàn cầu thì phải chấp nhận cuộc chơi, chấp nhận có được, có mất, không thể thắng hoàn toàn. TPP là cơ hội doanh nghiệp trải nghiệm và vươn lên.

- Ngoài các thách thức ở thị trường nội địa, thì khi xuất khẩu sang các nước TPP phải đối mặt với những thách thức gì?

- TPP giúp các doanh nghiệp gỡ bỏ các hàng rào thuế quan khi xuất khẩu sang thị trường khu vực, nhưng vẫn còn đó các rào cản về quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh an toàn dịch tễ và đặc biệt là các vụ kiện phòng vệ thương mại (chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ). Như chúng ta đã biết, cho tới nay Mỹ đã tiến hành 16 vụ kiện phòng vệ thương mại đối với hàng hóa của Việt Nam. Nếu thực thi TPP mà hàng hóa của chúng ta xuất khẩu sang thị trường Mỹ nhiều hơn, thì nguy cơ bị kiện cũng sẽ lớn hơn. Tương tự ở các thị trường khác trong TPP cũng vậy.

- Bà đánh giá thế nào về sự sẵn sàng của doanh nghiệp với TPP?

- Ở VCCI, tôi đã làm việc và tư vấn cho rất nhiều doanh nghiệp, thì thấy đa số họ rất bị động và hầu như không biết tới các FTA Việt Nam đã ký. Ví dụ, có doanh nghiệp làm ăn với Nhật Bản nhưng chỉ khi đối tác yêu cầu doanh nghiệp xin C/O để hưởng ưu đãi theo FTA ASEAN - Nhật Bản thì mới biết có FTA này.

Một bộ phận khác dù biết tới FTA, nhưng họ không biết cách tận dụng thế nào, hoặc để tận dụng được thì phức tạp và tốn chi phí nên lại chuyển sang xuất khẩu theo thuế MFN như bình thường. Từ đó, có thể thấy là doanh nghiệp của chúng ta đã bỏ phí rất nhiều FTA mà Chính phủ đã tốn bao công đàm phán.

Còn đối với các FTA mới của Việt Nam, đặc biệt là TPP, các doanh nghiệp thể hiện sự quan tâm rõ ràng hơn, nhưng có vẻ vẫn chỉ dừng ở việc biết tới chứ chưa thực sự hiểu TPP là gì. Nhiều doanh nghiệp gọi điện đến Trung tâm WTO và Hội nhập của VCCI để hỏi về TPP, nhưng các câu hỏi chủ yếu xoay quanh việc bao giờ TPP được ký kết/có hiệu lực, cam kết về thuế trong TPP sẽ như thế nào? Các cam kết khác, cũng rất quan trọng và có tác động tới doanh nghiệp như như lao động, môi trường, sở hữu trí tuệ…. thì vẫn chưa biết đến hoặc chưa quan tâm.

Hơn nữa, tôi nhận thấy các doanh nghiệp quan tâm nhiều tới TPP lại chủ yếu là khối FDI, một số doanh nghiệp lớn ở các thành phố lớn như Hà Nội và Hồ Chí Minh, còn các doanh nghiệp nhỏ, ở các địa phương, hầu như không biết tới hoặc không hiểu TPP là gì.

- Điều này sẽ ảnh hưởng thế nào tới quá trình triển khai, thực thi hiệp định cũng như tận dụng các cơ hội, thưa bà?

- Nếu TPP được ký kết và có hiệu lực, Việt Nam sẽ phải sửa đổi các quy định pháp luật cho phù hợp với các cam kết của TPP. Mặc dù công việc này là của các cơ quan nhà nước, nhưng các ý kiến góp ý của doanh nghiệp là rất quan trọng để các quy định pháp luật được sửa đổi vừa phù hợp với TPP lại vừa có lợi cho doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không hiểu rõ về TPP và không có tham vấn với cơ quan nhà nước, thì có thể những quy định mới đưa ra sẽ không phản ánh được các nhu cầu và lợi ích của doanh nghiệp.

Và quan trọng hơn, nếu không biết và không hiểu về TPP, doanh nghiệp sẽ không biết đến các lợi ích mà TPP có thể đem lại hoặc không biết cách tận dụng các lợi ích đó. Tôi lấy ví dụ như doanh nghiệp khi xuất khẩu hàng sang Mỹ mà không biết đến TPP có quy định cắt giảm thuế quan đối với mặt hàng xuất khẩu của mình, hay quy tắc xuất xứ thì vẫn xuất khẩu theo cách thông thường, áp dụng thuế MFN, thì không được hưởng lợi từ thuế ưu đãi theo TPP.

- Theo bà, các doanh nghiệp Việt Nam cần làm gì để có thể sớm tận dụng được TPP một khi được ký kết và có hiệu lực?

- Để có thể cạnh tranh tốt, tận dụng các cơ hội và vượt qua những thách thức từ các FTA thì trước hết doanh nghiệp phải hiểu kỹ về TPP, về những tác động của hiệp định với các hoạt động của mình. Rút kinh nghiệm từ bài học WTO và các FTA trước đây, đối với TPP và các FTA mới của Việt Nam, doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu thông tin, nội dung đàm phán từ khi hiệp định chưa được ký kết để có bước chuẩn bị và tận dụng ngay khi hiệp định có hiệu lực.

Trên cơ sở phân tích các thông tin thu được, doanh nghiệp có thể chủ động xây dựng chiến lược sản xuất, chiến lược sản phẩm sao cho tận dụng được các cơ hội từ FTA cũng như tránh được hoặc vượt qua những thách thức cạnh tranh từ các đối thủ nước ngoài.

Một điểm tôi cũng rất lưu ý với doanh nghiệp, đó là “buôn có bạn, bán có phường”, kinh doanh ở thị trường nước ngoài, cạnh tranh với đối tác nước ngoài lại càng cần phải có sự liên kết giữa các doanh nghiệp, với các hiệp hội. Đây dường như là cách thức rất tốt để doanh nghiệp tận dụng hiệu quả cơ hội từ các FTA sắp tới.

Trên tất cả, doanh nghiệp phải tự tìm cho mình cách thức để cải thiện năng lực cạnh tranh, tìm được thị trường ngách để có chỗ đứng bền vững. Đây luôn là bài toán đặt ra ở bất kỳ thời điểm nào đối với các doanh nghiệp, nhưng trong bối cảnh mới của TPP và các FTA mới, đòi hỏi này lớn hơn bao giờ hết.

Phương Linh