Hiển thị các bài đăng có nhãn Agriculture. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Agriculture. Hiển thị tất cả bài đăng
(Sàn giao dịch TMĐT NOCNDEAL) - Nhiều doanh nghiệp bắt đầu rục rịch lên kế hoạch xuất khẩu sang Mỹ nhằm tận dụng lợi thế từ TPP mang lại




Đầu tháng 3 tới, Công ty Xuất khẩu Giày Liên Phát (Bình Dương) sẽ bắt tay thực hiện những lô hàng đầu tiên trong đơn hàng xuất đi Mỹ. Bà Trương Thúy Liên, Giám đốc Công ty Giày Liên Phát, cho biết để tận dụng lợi thế từ Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), nhiều khách hàng Mỹ đã đến Việt Nam đặt vấn đề gia công với doanh nghiệp (DN).

Muốn xuất cả tăm, nhang, mùn cưa… qua Mỹ

Theo bà Liên, để làm hàng cho nhà nhập khẩu Mỹ, Liên Phát phải đáp ứng các yêu cầu về trách nhiệm xã hội và an ninh hàng hóa. Nghĩa là, mọi hàng hóa trong quá trình sản xuất đều phải có nguồn gốc rõ ràng và phía Mỹ sẽ giám sát quy trình này ở tất cả công đoạn. “Lần đầu tiên làm việc với DN Mỹ khá thuận lợi đang mở ra nhiều triển vọng lớn cho chúng tôi” - bà Liên hào hứng.

Một số nhà đầu tư trong ngành dệt nhuộm, may mặc, giày dép có nhà máy ở Trung Quốc cũng đã dời toàn bộ hoạt động sang Việt Nam nhằm đón đầu TPP bởi thị trường Mỹ quá hấp dẫn. Tham tán Công sứ thương mại Mỹ Đào Trần Nhân cho biết 99% giày dép bán tại Mỹ là hàng nhập khẩu. Thị trường này chỉ hơn 317 triệu dân nhưng tiêu thụ tới 2,5 tỉ đôi giày dép mỗi năm. Tính trung bình, mỗi người Mỹ sử dụng gần 8 đôi giày dép/năm. Hiệp hội Giày dép Mỹ ước tính nhờ TPP, thị phần xuất khẩu giày dép của Việt Nam tại nước này sẽ tăng từ 12% lên 22% vào năm 2019.

Đại diện Thương vụ Việt Nam tại Mỹ cho biết gần đây đã nhận được rất nhiều yêu cầu của DN hỏi thông tin để xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ. Trong đó, phần lớn DN cần tìm hiểu kỹ thị trường và những lợi ích do TPP mang lại. Ngay cả những DN nhỏ chuyên sản xuất tăm tre, trầm hương, nhang và cả mùn cưa nén thành viên nhỏ để đốt lò sưởi... cũng muốn tìm hiểu thông tin để xuất hàng đi Mỹ khi TPP có hiệu lực. “Mới đây, có DN đang làm về xử lý ảnh nhưng lại hỏi thủ tục để xuất khẩu vải, nhãn vào Mỹ!” - ông Nhân tiết lộ.

Coi chừng rào cản kỹ thuật

Theo ghi nhận của phóng viên Báo Người Lao Động, sau khi TPP được chính thức ký kết vào đầu tháng 2-2016, rất nhiều DN xuất khẩu đang tìm hiểu các quy định về thủ tục, rào cản kỹ thuật để đưa hàng sang Mỹ.

Ông Lê Minh Chánh, Giám đốc HTX Thanh Long Long Trí (tỉnh Long An), cho biết đang tìm hiểu các quy định liên quan đến rào cản kỹ thuật nhằm đưa thanh long xuất khẩu qua Mỹ. Hiện thanh long của Long Trí chủ yếu xuất qua Trung Quốc nhưng không ổn định nên DN muốn tìm một thị trường mới bền vững hơn. Khó khăn lớn nhất mà ông Chánh e ngại là các quy định về rào cản kỹ thuật, an toàn vệ sinh thực phẩm (như dư lượng kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật…) ở Mỹ rất phức tạp, không dễ tìm hiểu và thực hiện.

Theo ông Trần Quốc Thanh, thành viên HĐQT Tập đoàn Lộc Trời, khoảng 2 năm nay, DN này đã xuất khẩu gạo qua Mỹ. Đây là một thị trường rất lớn, hiệu quả về mặt kinh doanh và giá tốt nhưng vướng mắc lớn nhất vẫn là rào cản kỹ thuật. Chẳng hạn, những chỉ tiêu trong MRL (mức giới hạn dư lượng thuốc bảo vệ thực vật) của cơ quan quản lý Mỹ đưa ra không rõ ràng khiến DN rất khó đáp ứng. “Thực tế, chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam không thua các nước như Thái Lan nhưng do chỉ xây dựng thương hiệu gần đây nên xuất qua Mỹ không đơn giản. Do đó, các DN trong ngành cần sự hỗ trợ nhiều hơn từ phía nhà nước” - ông Thanh mong mỏi.

Liên quan đến những rào cản kỹ thuật mà Mỹ áp dụng đối với lĩnh vực nông - thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang làm việc với Mỹ để tìm hướng giải quyết. Đại diện Thương vụ Việt Nam tại Mỹ cho biết phía Mỹ không quy định rõ hàm lượng, dư lượng chất kháng sinh cụ thể, trong khi quy chuẩn ở châu Âu và Nhật khá rõ. DN muốn xuất khẩu hàng thực phẩm, động vật vào Mỹ cần nghiên cứu kỹ nội dung trong quy định của Luật Hiện đại hóa về vệ sinh an toàn thực phẩm. Với mặt hàng thực phẩm và đồ uống, DN xuất khẩu cần lưu giữ hồ sơ từ khâu sản xuất, chế biến của từng lô hàng để truy xuất nguồn gốc khi cần. Nếu DN từ chối, không cho kiểm tra, đồng nghĩa với việc sẽ bị từ chối xuất khẩu vào Mỹ.

“Một loại quả của Việt Nam muốn được xuất sang Mỹ cần 5-6 năm. Hiện chỉ có 4 loại: thanh long, chôm chôm, nhãn và vải của Việt Nam được phép chính thức xuất sang Mỹ. Chúng tôi đang làm việc để xoài và vú sữa có tên trong danh sách trái cây được nhập khẩu thị trường này. Trong khi đó, rất nhiều DN đã liên hệ với thương vụ để xin xuất khẩu đủ loại trái cây, như: chanh tươi, chanh dây…” - ông Nhân cho biết.

Phải hiểu để làm ăn với Mỹ

Theo nhiều chuyên gia kinh tế, Mỹ là thị trường lớn, có sức tiêu thụ rất cao nhưng hiện nay, đa số DN Việt Nam quy mô vừa và nhỏ nên không đáp ứng được đơn hàng lớn. Chẳng hạn, các hệ thống siêu thị của Mỹ đều là những tập đoàn hàng đầu thế giới, như Walmart có doanh số hằng năm gần 500 tỉ USD. Muốn bán hàng cho đại siêu thị này, cần những đơn hàng lớn nhưng lại vượt quá tầm của DN Việt. Do đó, các DN muốn làm ăn với Mỹ cần tính đến chuyện liên kết, hợp tác với nhau.
Sự ra đời của sàn giao dịch thương mại điện tử B2B tại NOCNDEAL.com phục vụ riêng cho các nước thành viên TPP là một trong những giải pháp rất hữu ích để hiện thực hóa  việc xuất hàng qua Mỹ đạt chuẩn TPP. Doanh nghiệp Việt Nam tham gia sàn NOCNDEAL sẽ được chuyên gia tư vấn kỹ về TPP, những điều cần thực hiện để sản phẩm của doanh nghiệp được xác nhận đạt chuẩn TPP.

cafeF.vn 
(Sàn thương mại điện tử b2b NOCNDEAL) - Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) mở cho Việt Nam thị trường xuất khẩu rộng lớn với nhiều mặt hàng nông nghiệp chủ lực; ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ kỹ năng lao động... Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Trần Thanh Nam cho rằng, lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp cũng phải đối mặt với nhiều thách thức lớn...

Cảnh báo dư thừa lao động nông nghiệp 

Hiện Việt Nam có khoảng 46% lao động đang làm việc trong khu vực nông nghiệp, trong đó chỉ khoảng 250.000 lao động làm việc trong các doanh nghiệp đăng ký theo Luật Doanh nghiệp hoặc các hợp tác xã. Còn lại khoảng 23 triệu lao động trong khu vực phi chính thức, đó là kinh tế hộ gia đình hoặc các công việc không ổn định khác. Bên cạnh niềm vui TPP được thông qua, là góc khuất về số phận của những lao động phi chính thức này. Tham gia vào TPP, doanh nghiệp Việt nếu cạnh tranh được sẽ lớn mạnh lên, ngược lại một số khác có thể bị thay thế bởi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI); hàng nhập khẩu của các nước phát triển có tính cạnh tranh cao hơn hàng sản xuất trong nước, sẽ làm cho nông dân mất việc làm. “Hàng hóa nông nghiệp, đặc biệt là sản phẩm chăn nuôi từ Mỹ, New Zealand sẽ tạo sức ép cạnh tranh rất cao với ngành chăn nuôi, bởi các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam nói chung là có tiêu chuẩn thấp hơn các nước thành viên TPP. Do đó nếu dựng hàng rào kỹ thuật để bảo hộ thị trường trong nước thì sẽ vi phạm điều khoản chống phân biệt đối xử đã ký kết trong TPP”, ông Lê Văn Bảnh, Cục trưởng Cục Chế biến Nông lâm thủy sản và Nghề muối (Bộ NN&PTNT) phân tích.

Tại một số cuộc hội thảo bàn về nông nghiệp Việt trước thách thức và vận hội từ TPP mới đây, các chuyên gia đều cho rằng, lao động đang làm việc trong khu vực phi chính thức cả ở nông nghiệp và thành thị hiện đang đối mặt với nguy cơ thất nghiệp. Nếu quá chú trọng vào phát triển những ngành công nghệ cao (thường là thâm dụng vốn) sẽ đẩy nền kinh tế nước ta vào tình trạng lưỡng phân: Một khu vực cạnh tranh được, có năng suất lao động cao, thu nhập tăng và một khu vực bị đẩy vào những thị trường phi chính thức không có năng lực cạnh tranh, thu nhập ngày càng giảm. Điều này sẽ làm gia tăng bất bình đẳng trong xã hội, tăng nguy cơ bất ổn xã hội như dự báo của một số nghiên cứu gần đây.

Ở góc nhìn khác, sự thay đổi về phương thức sản xuất ở trong nước khi đã thích ứng với môi trường cạnh tranh từ bên ngoài buộc phải chuyển sang sản xuất lớn, quy mô công nghiệp, nhưng sản xuất lớn với quy mô công nghiệp sẽ làm cho nhu cầu lao động giảm xuống. “Đơn cử, nếu vẫn sản xuất nhỏ lẻ như hiện nay, thì có thể cần một nghìn người, thậm chí cả vạn người để tham gia sản xuất chăn nuôi. Nhưng nếu đầu tư trang trại quy mô chuẩn, thì chỉ cần vài trăm người là có thể sản xuất quy mô lớn. Như vậy, số lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ dư thừa lớn” - ông Lê Văn Bảnh cảnh báo.

Chế biến tôm xuất khẩu.

Cần hình thành các cụm liên kết ngành

Trước thực tế này, các chuyên gia nhận định, để lao động nông nghiệp Việt Nam không bị “lao đao” khi hội nhập, cần phải nhanh chóng hình thành nên các doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn và từ đó tạo lập nên các mối liên kết với các doanh nghiệp nhỏ làm các nhà cung ứng đầu vào, cung ứng các dịch vụ đầu ra, liên kết với các tổ chức cung ứng dịch vụ cần thiết như kỹ thuật, lao động, tư vấn… để hình thành nên các cụm liên kết ngành. Sức mạnh cạnh tranh mang tính toàn cụm và do các doanh nghiệp dẫn đầu kiểm soát. Việc làm sẽ được tối đa hóa nếu hình thành được các cụm liên kết ngành.

Trong bối cảnh hàng loạt hiệp định thương mại tự do (FTA) đã và sắp được ký kết đang đặt ngành nông nghiệp trước yêu cầu phải gấp rút tái cơ cấu. Thế nhưng, làm thế nào để có nguồn lực tái cơ cấu và làm thế nào để hộ nông dân cá thể hội nhập thành công hiện vẫn là bài toán khó. Về điều này, Thứ trưởng Trần Thanh Nam cũng thừa nhận, ngành nông nghiệp Việt Nam đang đối mặt với khá nhiều thách thức, bởi năng lực cạnh tranh còn hạn chế. Một khi phương thức sản xuất manh mún, lạc hậu, phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu thì rất khó đáp ứng quy tắc xuất xứ nên hàng hóa khó được các nước yêu cầu tiêu chuẩn cao chấp nhận. Điều này kéo theo việc tạo công ăn việc làm, giải quyết lao động trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ trở nên khó khăn.

Với hơn 90 triệu dân, trong đó hơn 70% dân số sống ở nông thôn, hỗ trợ phát triển nông nghiệp cũng là hỗ trợ cho đại đa số người dân. Thế nhưng, phát triển nông nghiệp theo hướng công nghệ cao cũng không thể rập khuôn theo cách làm của thế giới, mà phải dựa trên đặc điểm riêng của Việt Nam. Việt Nam có điều kiện tự nhiên thích hợp cho phát triển nông nghiệp, song đất đai lại manh mún, doanh nghiệp nhỏ lẻ, lao động tuy dồi dào nhưng trình độ thấp...

Do vậy, phát triển nông nghiệp công nghệ cao phải theo hướng vừa tận dụng được lợi thế tài nguyên, lao động, vừa liên kết được với nông dân, vừa giải quyết được lao động dư thừa... Đây là những vấn đề cần tính đến khi hiện đại hóa nông nghiệp khi gia nhập TPP. 

NGUYỄN THANH
Lao động và Xã hội
Hội nhập TPP đem lại nhiều thuận lợi cho xuất khẩu Gạo và đồng thời cũng mang đến rất nhiều sức ép cạnh tranh cho Việt Nam, để có thể tồn tại và đứng vững trên thương trường TPP, Việt Nam cần phải thay đổi từ khâu chọn giống, sản xuất cho đến việc xây dựng thương hiệu cho hạt gạo...

>> Nền Sản Xuất Việt Nam Phải Đối Mặt Với Quá Nhiều Thách Thức


Dù khẳng định hạt gạo VN có nhiều lợi thế hơn các đối thủ khi xuất sang các quốc gia thành viên TPP, nhưng nhiều chuyên gia cho rằng nếu muốn tận dụng được cơ hội, VN phải thay đổi từ khâu chọn giống, sản xuất cho đến việc xây dựng thương hiệu cho hạt gạo.

Trong các thành viên tham gia TPP, trừ Nhật không cam kết trong khi Mexico và Chile sẽ xóa thuế theo lộ trình 8-10 năm, tám quốc gia còn lại đều sẽ xóa thuế ngay cho gạo VN sau khi hiệp định này có hiệu lực. Theo các chuyên gia, đã đến lúc VN cần bắt tay xây dựng thương hiệu gạo một cách bài bản và khoa học để có thể tận dụng được cơ hội này.

Thiếu thương hiệu, mất cơ hội

Theo GS.TS Võ Tòng Xuân, tại các hội chợ lương thực quốc tế ở Thái Lan những năm qua, gạo VN không dám xuất đầu lộ diện mà chỉ có gạo Thái Lan, gạo Campuchia và các nước khác. “Nhắc tới gạo Thái Lan, ai cũng biết Khao Dawk Mali và Hom Mali, Campuchia có gạo Romduol, Myanmar có Paw San và Ấn Độ là gạo Basmati, nhưng chẳng ai biết gạo thơm VN là gì” - ông Xuân nói.

Theo ông Xuân, do không có thương hiệu, gạo Việt đã gặp rất nhiều khó khăn trong cạnh tranh tại các thị trường xuất khẩu thời gian qua, chứ chưa nói đến việc tận dụng từ cơ hội do TPP mang lại.

Trong khi đó, GS.TS Võ Tòng Xuân cho biết tại ngân hàng giống lúa thuộc Trường ĐH Cần Thơ hiện đang lưu giữ tới 1.468 giống lúa vùng Tây Nam bộ, vốn nổi tiếng thơm ngon như: Nàng Thơm Chợ Đào, Nàng Hương, Châu Hạng Võ..., chưa kể một số giống lúa cao sản cũng thơm ngon không kém như: Jasmine 85, ST, Nàng Hoa 9...

“VN có rất nhiều giống lúa tốt, cho gạo thơm ngon nhưng tại sao bị Campuchia qua mặt dễ như vậy dù trình độ sản xuất của họ lạc hậu hơn?” - ông Xuân đặt câu hỏi.

Theo ông Xuân, nguyên nhân là do nông dân chỉ thích trồng giống lúa nào cho năng suất thật cao mà ít quan tâm đến chất lượng thơm ngon, trong khi nông dân các nước trong khu vực chỉ thích trồng giống lúa thơm ngon.

Đặc biệt, theo ông Xuân, chuyện làm ăn chụp giật, trộn gạo thường với gạo thơm để bán ngày càng trầm trọng, gây ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu gạo VN. “Kiểu làm ăn đó góp phần làm cho gạo VN bị mang tiếng xấu khắp thế giới. Nói đến gạo VN, người ta nói thẳng đó là gạo trộn. Quá xấu hổ!” - ông Xuân nói.

Ông Phạm Văn Dư, phó cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT), bức xúc cho biết gạo thơm Jasmine 85 hiện được xuất khẩu với tỉ trọng rất lớn, nhưng nhiều doanh nghiệp (DN) lại đem gạo này trộn với một số loại gạo khác thơm nhẹ hơn, giá rẻ hơn để xuất. Có DN trộn theo yêu cầu của khách hàng, có DN tự ý trộn để phá giá.

“Chỉ riêng giống Jasmine 85, VN đã có tới 13 dòng với chất lượng khác nhau mà DN còn đem trộn với gạo khác nữa thì làm sao đảm bảo chất lượng. Người tiêu dùng nước ngoài ăn và đánh giá không tốt về gạo thơm VN. Hậu quả là cả ngành sản xuất, xuất khẩu lúa gạo VN bị vạ lây. Tôi rất buồn về điều này” - ông Dư tâm tư.

Làm thương hiệu từ khâu... chọn giống

Theo ông Dư, để nâng cao giá trị xuất khẩu của gạo Việt, tận dụng được các cơ hội do TPP mang lại, không còn cách nào khác là phải xây dựng thương hiệu cho gạo Việt và phải bắt đầu từ gốc, đó là chọn giống phù hợp. Dù ĐBSCL là vựa lúa của cả nước nhưng vừa có vùng đất phù sa, vừa có vùng bị nhiễm mặn nên không thể trồng cùng một giống được.

Căn cứ nhu cầu của thị trường thế giới và điều kiện canh tác, ông Dư cho rằng chỉ nên canh tác 4 nhóm giống gồm: lúa thơm đặc sản vùng bị nhiễm mặn; lúa thơm ở vùng đất phù sa; lúa hữu cơ, lúa dược liệu; cuối cùng là lúa hạt dài chất lượng cao.

Đối với vùng đất nhiễm mặn, theo ông Dư, giống lúa thơm ST rất thích hợp, năng suất cao, gạo được một số thị trường chấp nhận... Với vùng đất phù sa nước ngọt quanh năm, giống Jasmine 85 là một lựa chọn.

Ngoài ra, giống Nàng Hoa 9 cho chất lượng không thua kém gạo Khao Dawk Mali của Thái Lan, đang được nông dân các tỉnh ĐBSCL sản xuất với diện tích rất lớn. Nhóm gạo hữu cơ, gạo dược liệu dù giá rất cao nhưng không thể sản xuất đại trà nên các DN cần có chiến lược riêng.

Cùng quan điểm, ông Võ Tòng Xuân cho rằng Nhà nước cần tổ chức bình tuyển các giống lúa ở từng vùng để chọn ra loại ngon nhất. Chẳng hạn, trong hơn 20 dòng của giống ST đặc sản sẽ tìm ra dòng tốt nhất để sản xuất giống siêu nguyên chủng, nguyên chủng, xác nhận cung cấp cho nông dân. Khi đã chọn được giống,

DN phải ký hợp đồng với HTX, cung cấp giống cho nông dân sản xuất theo tiêu chuẩn GAP (an toàn, chất lượng và truy nguyên được nguồn gốc).

Theo ông Xuân, mỗi cánh đồng vài trăm hecta chỉ làm một giống. DN phải cử kỹ sư nông nghiệp theo suốt quá trình sản xuất, đảm bảo sản phẩm đầu vào cho đến đầu ra là gạo đóng gói xuất khẩu đồng nhất về chủng loại và chất lượng, không có gạo khác lẫn vào. Có được sản phẩm chất lượng, DN yên tâm đăng ký nhãn hiệu, quảng bá, tiếp thị ra nước ngoài. Với quy trình này, DN nào làm ăn gian dối sẽ tự bị đào thải.

“Có thể một giống lúa sẽ được đăng ký nhiều nhãn hiệu khác nhau, nhưng tất cả khi xuất ra nước ngoài chất lượng giống nhau và luôn ổn định như vậy thì thế giới sẽ biết gạo VN là gạo gì. Đó chính là thương hiệu gạo Việt”.

Ông Lâm Anh Tuấn - giám đốc Công ty lương thực Thịnh Phát, Bến Tre - cho rằng Bộ NN&PTNT cần phối hợp với các nhà khoa học để chọn được giống lúa ngon nhất và chỉ ra vùng nào trồng giống gì.

DN căn cứ vào nhu cầu thị trường của mình ký hợp đồng với HTX, nông dân sản xuất loại giống xác nhận do cơ quan thẩm quyền cung cấp.

“Nhà nước cũng cần có “hàng rào kỹ thuật”, kiểm nghiệm chất lượng nghiêm ngặt trước khi cho DN xuất khẩu, nếu lô hàng đó không đạt thì không cho xuất để bảo vệ DN và lấy lại uy tín cho gạo VN” - ông Tuấn đề xuất.

Ông Huỳnh Thế Năng (chủ tịch Hiệp hội Lương thực VN):
Phải từ bỏ thói quen sản xuất nhỏ

Việc xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu “gạo Việt” cần có sự phối hợp của tất cả những bên có liên quan gồm: DN, chính quyền địa phương, Nhà nước và nông dân.

Theo đó, DN chủ động chọn sản phẩm để xây dựng nhãn hiệu cho mình trước khi quảng bá, tiếp thị đến người tiêu dùng trong và ngoài nước. Nếu sản phẩm đó có chất lượng ổn định, giá cả cạnh tranh, sản lượng lớn đáp ứng nhu cầu của thị trường thì mới xây dựng thương hiệu.

Chính quyền địa phương cũng phải cùng DN tổ chức lại sản xuất và hỗ trợ các dịch vụ hậu cần thiết yếu. Nhà nước đầu tư xây dựng các phòng xét nghiệm, kiểm nghiệm gạo cho kết quả nhanh, chính xác. Nông dân cũng phải từ bỏ thói quen sản xuất nhỏ mà tham gia HTX để DN có điều kiện liên kết sản xuất lớn.
Ông Lê Hùng Lân 
(giám đốc Công ty hạt giống Hoa Tiên, TP.HCM) 
Nên làm từ giống lúa thuần Việt 
Muốn xây dựng thương hiệu “gạo Việt” phải lấy giống lúa thuần Việt, không nên lấy giống của nước khác rồi gán cho nó cái tên Việt.
Chẳng hạn, giống Jasmine 85 do một nhà khoa học người Mỹ (Hank Beachell) lai tạo từ giống Khao Dawk Mali của Thái Lan với IR262 tại Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), nên nếu chúng ta lấy giống này xây dựng thương hiệu “gạo Việt” có thể gặp rắc rối về bản quyền giống.
Vả lại, nói là gạo Việt mà thực chất là giống lúa của Mỹ thì không hay lắm. VN không thiếu giống lúa thơm ngon hơn cả Jasmine 85 và ngang ngửa với Khao Dawk Mali thì tại sao phải lấy Jasmine 85 đại diện cho mình chứ?
Gạo là một trong những mặt hàng Nhật Bản không xóa bỏ thuế quan ngay khi hiệp định TPP có hiệu lực mà sẽ xóa theo lộ trình. 




Trong buổi họp báo chuyên đề về cam kết TPP trong lĩnh vực tài chính do Bộ Tài chính tổ chức chiều ngày 9/11, ông Vũ Nhữ Thăng, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tài chính cho biết, Nhật Bản cam kết xóa bỏ ngay thuế nhập khẩu đối với 86% số dòng thuế.

Theo lộ trình, vào năm thứ 11 kể từ khi hiệp định có hiệu lực, Nhật Bản sẽ xóa bỏ đối với khoảng 95,6% số dòng thuế.

Tuy nhiên, với các mặt hàng nông sản từ Việt Nam như gạo, thịt, sữa thì những ưu đãi về thuế quan không thực sự lớn.

Ngoài việc không cam kết với mặt hàng gạo, Nhật Bản sẽ áp dụng hạn ngạch thuế quan hoặc cắt giảm một phần hoặc cam kết kèm theo các biện pháp phòng vệ thương mại đối với một số mặt hàng nhạy cảm như thịt trâu bò, thịt lợn, sữa, sản phẩm sữa, lúa mỳ, lúa gạo và các chế phẩm của chúng.

Ngược lại, với ngành thủy sản, khi TPP có hiệu lực, đa số mặt hàng có thế mạnh của Việt Nam được hưởng ngay thuế suất 0% như các mặt hàng cá ngừ vây vàng, cá ngừ sọc dưa, cá kiếm, một số cam kết, surimi, tôm, cua ghẹ,…

Như vậy, toàn bộ các dòng hàng thủy sản không cam kết xóa bỏ thuế trong FTA Việt Nam – Nhật Bản sẽ được xóa bỏ trong TPP với lộ trình xóa bỏ vào năm thứ 6, năm thứ 11 hoặc năm thứ 16 kể từ khi hiệp định có hiệu lực.

Ngoài ra, Nhật Bản cam kết mức thuế 0% với mặt hàng rau quả vào năm thứ 3 hoặc năm thứ 5 kể từ khi hiệp định có hiệu lực.

Vào năm thứ 8 sau khi TPP chính thức có hiệu lực, mặt hàng mật ong được Nhật cam kết xóa bỏ thuế.

Quốc gia này cũng sẽ xóa bỏ thuế của 79,5% kim ngạch mặt hàng giày dép vào năm thứ 10 và các mặt hàng còn lại của ngành giày da vào năm thứ 16. Tương tự thế, mặt hàng vali, túi xách bằng da cũng được xóa bỏ thuế suất vào năm thứ 16.

Xóa bỏ ngay 98,8% số dòng thuế của ngành dệt may. Con số này tương đương 97,2% kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam sang Nhật Bản.

Những mặt hàng còn lại Nhật Bản sẽ có lộ trình xóa bỏ thuế vào năm thứ 10 của hiệp định.

Ông Thăng cũng cho biết, cơ hội hợp tác của Việt Nam với các nước sau khi TPP chính thức có hiệu lực là rất lớn, đặc biệt là với Nhật Bản.

“Trước đó, với hiệp định Việt Nam – Nhật Bản có 1 số mặt hàng vẫn không được mở cửa nhưng khi TPP chính thức được thông qua, các mặt hàng này đều đã được mở cửa hợp tác”, ông Thăng nhấn mạnh.

Theo CafeF

Opening markets for agricultural and agri-food products

The Trans-Pacific Partnership is the most comprehensive trade agreement in the world. The TPP will help deepen Canada’s trade ties in the dynamic and fast-growing Asia-Pacific region while strengthening our existing economic partnerships with our partners in the NAFTA and across the Americas. It currently comprises 12 countries (Australia, Brunei, Canada, Chile, Japan, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, the United States and Vietnam), representing a combined market of nearly 800 million people and a gross domestic product (GDP) of $28.5 trillion. With the TPP, Canada has now concluded free trade agreements with 51 nations, ensuring Canadian businesses have access to over 60 percent of the world’s economy. The TPP and trade agreements with the European Union and South Korea make Canada the only G-7 nation with free trade access to the United States and Americas, Europe, and the Asia-Pacific.
In 2014, Canada’s agriculture and agri-food sector employed close to 2.3 million people and accounted for close to 6.6 percent of Canada’s GDP. Canada is the fifth-largest exporter of agricultural and agri-food products globally.
More than 246,000 Canadians employed in the sector work in the processing end of the industry, turning raw ingredients into processed foods, ready-to-eat meals, beverages, nutritional supplements and a nearly limitless variety of other high-quality products. TPP will open up new markets not only for agricultural commodities. It will also open up new markets for the food processing and beverage industry. 

TPP markets

The gains from tariff elimination and improved market access for Canadian agriculture in the TPP are especially significant in the markets of Japan, Malaysia and Vietnam. These are markets where Canada faces high tariffs and no prior preferential access. The average agricultural tariffs that Canada faces in these countries are 17.3 percent in Japan, 17 percent in Vietnam and 10.9 percent in Malaysia.
The TPP Agreement will give Canadian products preferential market access to all TPP countries. It will provide new market access opportunities for Canadian pork, beef, pulses, fruits and vegetables, malt, grains, cereals, animal feeds, maple syrup, wines and spirits, baked goods, processed grain and pulse products, sugar and chocolate confectionery, and processed foods and beverages. It will also ensure that Canadians have a competitive advantage over competitors outside of the TPP, benefitting the entire sector, from producers to processors.
In addition, the TPP provides Canadian producers and processors with new opportunities to expand their sourcing options when exporting to the United States, Mexico, Peru and Chile, with which Canada already has free trade agreements in place. Canada’s participation in the TPP will ensure that Canada remains a supplier of choice with our established NAFTA and FTA partners.
By generating opportunities for Canadian agricultural and agri-food exports, the TPP will protect and create jobs, and enhance economic opportunities and financial security for Canadian businesses, workers and their families in all regions of Canada.

Trade snapshot

From 2012 to 2014, Canada’s agricultural and agri-food exports to TPP countries were worth, on average, $31.2 billion annually. Top exports were canola oil, wheat, live swine, baked goods, beef, and processed potatoes.
Agricultural exports from Canada to TPP countries (2010-2014) (values in millions of Canadian dollars)
*Source : Global Trade Atlas

TPP Agreement highlights

  • In Japan, close to 32 percent of tariff lines on agriculture and agri-food products will be duty-free upon entry into force.
    • A further 9 percent of tariff lines will be provided preferential tariff treatment through permanent quotas and country-specific quotas for Canada. The remaining tariff lines will be provided tariff elimination or reductions over a period of up to 20 years, or reductions of the in-quota or out-of-quota tariff.
  • Vietnam will eliminate tariffs on close to 31 percent of its tariff lines upon entry into force. A further 67 percent of tariff lines will become duty-free within 15 years, with the remaining being provided preferential treatment through other means (tariff elimination only on in-quota tariff lines).
  • Malaysia will eliminate tariffs on nearly 92 percent of its tariff lines upon entry into force. A further 7 percent of tariff lines will become duty-free within 15 years, with the remaining being provided preferential treatment through permanent tariff rate quotas.
  • Australia will eliminate all of its tariffs on agriculture and agri-food products upon entry into force, except for one tariff line which will be eliminated within 4 years.
  • New Zealand will eliminate tariffs on almost 99% of its agriculture and agri-food tariff lines upon entry into force, with the remaining being eliminated within 5 years.
  • The TPP Agreement will give Canadian products preferential market access to all TPP countries. It will also ensure that Canadians have a competitive advantage over competitors outside of the TPP, benefitting the entire sector, from producers to processors.

Source: http://www.international.gc.ca/