Hiển thị các bài đăng có nhãn Thương mại điện tử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thương mại điện tử. Hiển thị tất cả bài đăng
(Sàn thương mại điện tử B2B Việt Nam NOCNDEAL) - Những thay đổi trong Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) cho thấy Việt Nam đã chủ động trong cải cách thể chế, ngay trước khi ký kết Hiệp định TPP.




Sự chủ động của Việt Nam tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đặc biệt là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương(TPP), với tinh thần sẵn sàng chấp nhận cạnh tranh, cho thấy tư duy sắc bén và tầm nhìn xa trông rộng của các nhà lãnh đạo Việt Nam.

Nhưng tự thân TPP không mang đến cho Việt Nam tất cả những thành quả như mong muốn nếu Việt Nam không chủ động và không hành động để thích ứng với TPP trong điều kiện trình độ phát triển của nền kinh tế thấp và còn nhiều khó khăn.

Trong bài viết đầu xuân Bính Thân của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), thay đổi, nâng cao chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh được nhấn mạnh như một yếu tố quyết định để thành công với TPP. Theo đó, Nhà nước sẽ phải chủ động để có những cải cách, thay đổi nhiều nhất, từ đó tạo ra thể chế kinh tế chất lượng, đảm bảo có một nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, nguồn lực được phân bổ công bằng.

Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) đã nêu rõ: Người dân được quyền làm mọi việc mà pháp luật không cấm, còn Nhà nước muốn cấm, hạn chế quyền của người dân phải thể hiện được điều đó trong luật. Tất cả những thay đổi đó cho thấy Việt Nam đã chủ động trong cải cách thể chế, ngay cả trước khi ký kết TPP.

Hệ thống pháp luật đã và đang tiếp tục được điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường hiện đại, phù hợp với các cam kết trong các Hiệp định thương mại tự do, đặc biệt là các Hiệp định thế hệ mới. Hội nhập kinh tế quốc tế cũng có nghĩa là hợp tác, làm ăn với nhiều bạn hàng, đối tác trên thế giới. Bởi vậy, hiểu và nắm rõ các quy định pháp luật, đồng thời điều chỉnh lại các quy định được coi là không thích ứng với yêu cầu hội nhập là vấn đề đáng quan tâm lúc này.

Nhiều nghiên cứu và từ thực tiễn các nước đều khẳng định rằng, thể chế quản trị quốc gia là yếu tố quyết định nhất đến sức cạnh tranh vĩ mô và sự phát triển của một nền kinh tế. Phát triển nhanh và bền vững hay trì trệ, tụt hậu chủ yếu là do chất lượng thể chế.

Thể chế tốt, bảo đảm Nhà nước pháp quyền, quyền dân chủ của người dân và phù hợp với kinh tế thị trường hiện đại sẽ khơi dậy được cao nhất sức mạnh tổng hợp và các nguồn lực cho sự phát triển. Và như vậy, thể chế có vai trò quyết định đến hiệu quả và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước trong giai đoạn mới này là rất quan trọng. Vậy muốn thay đổi, việc đầu tiên là phải bắt đầu định vị được mối quan hệ Nhà nước, thị trường và doanh nghiệp.

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định thương mại tự do với EU sẽ tạo thêm xung lực mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong việc thu hút đầu tư và thúc đẩy xuất khẩu với các nền kinh tế lớn nhất thế giới; trong đó, EU với GDP trên 18.000 tỷ USD và TPP với GDP trên 20.000 tỷ USD. Nhưng khó khăn và thách thức đối với Việt Nam cũng không nhỏ. Nhà nước sẽ phải là chủ thể đưa ra những cải cách, thay đổi, để từ đó tạo ra thể chế kinh tế chất lượng.

Hiệp định TPP sẽ mở ra một sân chơi mới với người tham gia là nhiều quốc gia phát triển, với những bộ máy năng động. Chính trong sân chơi này, không chỉ doanh nghiệp, người dân mà Nhà nước cũng sẽ phải có sự cạnh tranh. Vì chỉ với những nền tảng thể chế cởi mở, minh bạch, những lợi ích từ TPP từ dự báo mới có thể được hiện thực hóa.

CafeF.vn
(Sàn giao dịch thương mại điện tử B2B NOCNDEAL) - Tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà Việt Nam là thành viên đòi hỏi các doanh nghiệp (DN) nói chung và đặc biệt là các DN khởi nghiệp phải đáp ứng những tiêu chuẩn cao về thương mại, sở hữu trí tuệ (SHTT), thực thi quyền SHTT. 







Theo TS. Lê Hoài Quốc- Trưởng Ban quản lý Khu công nghệ cao TP.Hồ Chí Minh, sự sống còn của một DN nói chung và DN khoa học công nghệ khởi nghiệp phải phát triển được ít nhất một tài sản trí tuệ (công nghệ, ứng dụng khoa học kỹ thuật mới, giống cây trồng...) và tài sản trí tuệ đó phải có khả năng bảo hộ độc quyền SHTT.

Ngoài ra, các DN cũng cần hỗ trợ trong việc thực hiện thủ tục kiểm định, kiểm nghiệm và lưu hành sản phẩm, hỗ trợ về sử dụng dịch vụ SHTT và tổ chức quản trị tài sản trí tuệ, kết nối thương mại và chuyển giao công nghệ, đàm phán và tham gia kênh phân phối... Nếu không khi được thị trường ưa chuộng, sản phẩm bị các đối thủ cạnh tranh có tiềm lực mạnh hơn nhảy vào đầu tư thì DN khởi nghiệp gần như không thể bảo vệ hoặc phát triển được thị phần.

Đánh giá của Hội SHTT TP.Hồ Chí Minh cho thấy trên lĩnh vực SHTT về nhãn hiệu, hiện nay, nhãn hiệu nổi tiếng của Việt Nam còn rất ít, thậm chí Việt Nam cũng chưa có bộ tiêu chí cụ thể để nhận biết như thế nào là một nhãn hiệu nổi tiếng. Trong khi các nhãn hiệu nổi tiếng của nước ngoài tại Việt Nam lại rất nhiều. Do vậy, việc trùng tên, giống nhau giữa các thương hiệu là có thể và như thế sẽ bất lợi cho DN Việt Nam. Vì thế nếu DN Việt có sản phẩm đang bán chạy tại nội địa thì phải tranh thủ đăng ký quyền SHTT trước để ngăn ngừa rủi ro về sau.

Bên cạnh đó, khi nền kinh tế tham gia ngày càng sâu vào các hiệp định thương mại tự do nhất là với hiệp định TPP khi mà các biện pháp chống cạnh tranh không lành mạnh của TPP rất mạnh, mức độ bảo hộ quyền SHTT rất lớn, chủ sở hữu quyền được bảo hộ cao hơn. Trong đó, những yếu tố về nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, sáng chế, bí mật thương mại, quyền tác giả và các quyền liên quan được xem là quan trọng hơn cả. Do đó các DN Việt Nam phải nghĩ đến tất cả những tình huống mà đối thủ cạnh tranh có thể gây ra để có sự chuẩn bị bảo vệ mình một cách hữu hiệu nhất.

TS.Nguyễn Hồng Quang - Trưởng phòng Quản lý Khoa học- Trường Đại học Quốc tế - Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh cho rằng, để thực thi quyền SHTT, các DN phải chủ động phát huy hoạt động quản trị tài sản trí tuệ của DN mình một cách hiệu quả và cần có nhân sự được đào tạo chuyên môn về quản trị tài sản trí tuệ trong DN. 

Tại TP.Hồ Chí Minh, trong giai đoạn 2011 – 2015, Sở Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với Viện Khoa học Sở hữu Trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã tổ chức Chương trình đào tạo quản trị viên tài sản trí tuệ. Đây cũng là chương trình đầu tiên trong cả nước hướng đến việc hỗ trợ các DN, trường, viện tự xây dựng hoạt động SHTT và quản trị tài sản trí tuệ trong nội bộ.

Nguồn: Báo Công Thương Điện Tử
Các nội dung của Hiệp định TPP đã được công bố với những cam kết mạnh mẽ trong lĩnh vực thương mại điện tử (TMĐT). Thời báo Ngân hàng đã có cuộc phỏng vấn với ông Nguyễn Hòa Bình, Chủ tịch Công ty PeaceSoft về vấn đề này.


Theo ông, những điểm đáng chú ý đối với lĩnh vực TMĐT qua nội dung của Chương TMĐT trong TPP là gì?
Qua nghiên cứu bước đầu những nội dung trong chương này (tiếng Anh), tôi thấy rất cô đọng và có nhiều cam kết, quy định mới. Nhưng chính vì sự cô đọng, ngắn gọn đó nên có những vấn đề cần chờ những giải thích và hướng dẫn triển khai chi tiết của các cơ quan có chức năng của Việt Nam trong thời gian tới đây thì mới có thể có những đánh giá sâu được.
Tuy nhiên, cũng có những nội dung đã có thể hiểu được phần nào. Đơn cử về phần thuế (Điều 14.3), TPP quy định không bên nào được áp thuế, phí đối với truyền điện tử (bao gồm cả nội dung truyền điện tử, như tải phần mềm xuống).
Theo tôi đây là nội dung mới, và chủ yếu Mỹ sẽ được lợi vì các phần mềm, bản quyền nhạc số… hầu hết đều từ Mỹ và khi bán vào các thị trường như Việt Nam sẽ không bị tính thuế.
Trong khi phần mềm trên các kho ứng dụng cho điện thoại thông minh hay nhạc số rất phổ biến hiện nay và nhiều phần mềm, ứng dụng người dùng muốn sử dụng được phải mua, nhưng Việt Nam không quản lý được nên coi là không có. Và ngay cả khi nếu chúng ta có tính đến thu thuế thì tới đây theo quy định của TPP, mình cũng không thu được.
Trong lĩnh vực TMĐT, TPP khuyến khích các bên cần nỗ lực để tránh gánh nặng không cần thiết và thông qua việc xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý để mang lại lợi ích cho các bên liên quan. Cụ thể ở Việt Nam, theo ông cần tập trung vào những vấn đề gì?
Tôi thấy rằng các quy định và vận hành TMĐT ở Việt Nam hiện nay khá ổn. Tuy nhiên, hiện các DN TMĐT đang chịu cảnh “một cổ, hai tròng” bởi có nhiều đơn vị thanh, kiểm tra quá. Cục TMĐT có thể thanh kiểm tra, Cục Quản lý thị trường có thể thanh kiểm tra. Để tạo thuận lợi hơn, theo tôi nên quy về một mối, đồng thời nên hạn chế thanh kiểm tra.
Hơn nữa, để thúc đẩy TMĐT, nên nghiên cứu có những khuyến khích như ưu đãi thuế cho các DN TMĐT cũng như hoạt động giao dịch TMĐT nói chung. Bởi, chính TPP cũng khuyến khích các bên nỗ lực làm việc với nhau để hỗ trợ các DN, đặc biệt là các DN nhỏ vượt qua những trở ngại trong sử dụng TMĐT.
Thực tế, có nhiều DN hoạt động bán hàng, dịch vụ trên mạng không đúng với quảng cáo về chất lượng, dịch vụ… Để hạn chế những hiện tượng như vậy cần làm gì?
Theo tôi, khách hàng nên mua hàng qua những trang web của các DN TMĐT có uy tín. Đồng thời, nên chọn mua những sản phẩm, dịch vụ của những DN, thương hiệu đã có tên tuổi. Song song với đó, nên và cần sử dụng các phương pháp thanh toán an toàn như Cash on delivery (giao hàng - trả tiền) hay thanh toán trực tuyến thì sử dụng thanh toán tạm giữ…
Như vậy sẽ hạn chế được các rủi ro có thể xảy ra. Ngoài ra, các trang TMĐT luôn có những mục dành cho đánh giá của khách hàng, người tiêu dùng về chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà một đơn vị cung cấp. Khách hàng nên lấy đó làm căn cứ tham khảo tốt trước khi quyết định mua hoặc sử dụng các dịch vụ đó.
Vậy ông đánh giá thế nào về vấn đề giải quyết tranh chấp TMĐT theo quy định của TPP?
Điều 14.18 trong Chương TMĐT của TPP về giải quyết tranh chấp cho biết, trong vòng 2 năm sau khi TPP có hiệu lực, Việt Nam không phải tuân theo quy định giải quyết tranh chấp như trong Chương 28 (Giải quyết tranh chấp) của TPP, tức là trong thời gian 2 năm này, Việt Nam vẫn được áp dụng các quy định hiện tại của mình liên quan đến giải quyết tranh chấp trong TMĐT.
Điều này có lợi cho Việt Nam vì chúng ta sẽ có thêm thời gian để xây dựng các chính sách, giải pháp phù hợp liên quan đến xử lý tranh chấp sau khi TPP có hiệu lực.
Xin cảm ơn ông.

Nguồn: http://thoibaonganhang.vn/