Hiển thị các bài đăng có nhãn nông nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nông nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
(Sàn thương mại điện tử b2b NOCNDEAL) - Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) mở cho Việt Nam thị trường xuất khẩu rộng lớn với nhiều mặt hàng nông nghiệp chủ lực; ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ kỹ năng lao động... Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Trần Thanh Nam cho rằng, lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp cũng phải đối mặt với nhiều thách thức lớn...

Cảnh báo dư thừa lao động nông nghiệp 

Hiện Việt Nam có khoảng 46% lao động đang làm việc trong khu vực nông nghiệp, trong đó chỉ khoảng 250.000 lao động làm việc trong các doanh nghiệp đăng ký theo Luật Doanh nghiệp hoặc các hợp tác xã. Còn lại khoảng 23 triệu lao động trong khu vực phi chính thức, đó là kinh tế hộ gia đình hoặc các công việc không ổn định khác. Bên cạnh niềm vui TPP được thông qua, là góc khuất về số phận của những lao động phi chính thức này. Tham gia vào TPP, doanh nghiệp Việt nếu cạnh tranh được sẽ lớn mạnh lên, ngược lại một số khác có thể bị thay thế bởi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI); hàng nhập khẩu của các nước phát triển có tính cạnh tranh cao hơn hàng sản xuất trong nước, sẽ làm cho nông dân mất việc làm. “Hàng hóa nông nghiệp, đặc biệt là sản phẩm chăn nuôi từ Mỹ, New Zealand sẽ tạo sức ép cạnh tranh rất cao với ngành chăn nuôi, bởi các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam nói chung là có tiêu chuẩn thấp hơn các nước thành viên TPP. Do đó nếu dựng hàng rào kỹ thuật để bảo hộ thị trường trong nước thì sẽ vi phạm điều khoản chống phân biệt đối xử đã ký kết trong TPP”, ông Lê Văn Bảnh, Cục trưởng Cục Chế biến Nông lâm thủy sản và Nghề muối (Bộ NN&PTNT) phân tích.

Tại một số cuộc hội thảo bàn về nông nghiệp Việt trước thách thức và vận hội từ TPP mới đây, các chuyên gia đều cho rằng, lao động đang làm việc trong khu vực phi chính thức cả ở nông nghiệp và thành thị hiện đang đối mặt với nguy cơ thất nghiệp. Nếu quá chú trọng vào phát triển những ngành công nghệ cao (thường là thâm dụng vốn) sẽ đẩy nền kinh tế nước ta vào tình trạng lưỡng phân: Một khu vực cạnh tranh được, có năng suất lao động cao, thu nhập tăng và một khu vực bị đẩy vào những thị trường phi chính thức không có năng lực cạnh tranh, thu nhập ngày càng giảm. Điều này sẽ làm gia tăng bất bình đẳng trong xã hội, tăng nguy cơ bất ổn xã hội như dự báo của một số nghiên cứu gần đây.

Ở góc nhìn khác, sự thay đổi về phương thức sản xuất ở trong nước khi đã thích ứng với môi trường cạnh tranh từ bên ngoài buộc phải chuyển sang sản xuất lớn, quy mô công nghiệp, nhưng sản xuất lớn với quy mô công nghiệp sẽ làm cho nhu cầu lao động giảm xuống. “Đơn cử, nếu vẫn sản xuất nhỏ lẻ như hiện nay, thì có thể cần một nghìn người, thậm chí cả vạn người để tham gia sản xuất chăn nuôi. Nhưng nếu đầu tư trang trại quy mô chuẩn, thì chỉ cần vài trăm người là có thể sản xuất quy mô lớn. Như vậy, số lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ dư thừa lớn” - ông Lê Văn Bảnh cảnh báo.

Chế biến tôm xuất khẩu.

Cần hình thành các cụm liên kết ngành

Trước thực tế này, các chuyên gia nhận định, để lao động nông nghiệp Việt Nam không bị “lao đao” khi hội nhập, cần phải nhanh chóng hình thành nên các doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn và từ đó tạo lập nên các mối liên kết với các doanh nghiệp nhỏ làm các nhà cung ứng đầu vào, cung ứng các dịch vụ đầu ra, liên kết với các tổ chức cung ứng dịch vụ cần thiết như kỹ thuật, lao động, tư vấn… để hình thành nên các cụm liên kết ngành. Sức mạnh cạnh tranh mang tính toàn cụm và do các doanh nghiệp dẫn đầu kiểm soát. Việc làm sẽ được tối đa hóa nếu hình thành được các cụm liên kết ngành.

Trong bối cảnh hàng loạt hiệp định thương mại tự do (FTA) đã và sắp được ký kết đang đặt ngành nông nghiệp trước yêu cầu phải gấp rút tái cơ cấu. Thế nhưng, làm thế nào để có nguồn lực tái cơ cấu và làm thế nào để hộ nông dân cá thể hội nhập thành công hiện vẫn là bài toán khó. Về điều này, Thứ trưởng Trần Thanh Nam cũng thừa nhận, ngành nông nghiệp Việt Nam đang đối mặt với khá nhiều thách thức, bởi năng lực cạnh tranh còn hạn chế. Một khi phương thức sản xuất manh mún, lạc hậu, phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu thì rất khó đáp ứng quy tắc xuất xứ nên hàng hóa khó được các nước yêu cầu tiêu chuẩn cao chấp nhận. Điều này kéo theo việc tạo công ăn việc làm, giải quyết lao động trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ trở nên khó khăn.

Với hơn 90 triệu dân, trong đó hơn 70% dân số sống ở nông thôn, hỗ trợ phát triển nông nghiệp cũng là hỗ trợ cho đại đa số người dân. Thế nhưng, phát triển nông nghiệp theo hướng công nghệ cao cũng không thể rập khuôn theo cách làm của thế giới, mà phải dựa trên đặc điểm riêng của Việt Nam. Việt Nam có điều kiện tự nhiên thích hợp cho phát triển nông nghiệp, song đất đai lại manh mún, doanh nghiệp nhỏ lẻ, lao động tuy dồi dào nhưng trình độ thấp...

Do vậy, phát triển nông nghiệp công nghệ cao phải theo hướng vừa tận dụng được lợi thế tài nguyên, lao động, vừa liên kết được với nông dân, vừa giải quyết được lao động dư thừa... Đây là những vấn đề cần tính đến khi hiện đại hóa nông nghiệp khi gia nhập TPP. 

NGUYỄN THANH
Lao động và Xã hội
Sàn thương mại điện tử B2B NOCNDEAL - Năm 2016, xuất khẩu nông lâm thủy sản được dự báo sẽ có nhiều triển vọng do nhu cầu thị trường tăng và cơ hội được hưởng ưu đãi lớn về thuế, sức cạnh tranh tăng từ các Hiệp định thương mại tự do vừa kết thúc đàm phán.

>> Doanh Nghiệp Dệt May, Giày Da Lo Vì Chưa Hiểu Sâu Về TPP
>> Việt Nam Rất Có Giá Trong TPP
>> Góc Nhìn TPP - Phỏng Vấn Đại Sứ Hoa Kỳ Tại Việt Nam



Những mặt hàng nông sản có cơ hội tăng trưởng xuất khẩu trong năm 2016 như: hạt điều, hạt tiêu, gỗ, sắn và rau quả.

Theo đó, định hướng thị trường xuất khẩu nông lâm thủy sản năm 2016 sẽ tập trung vào những thị trường trọng điểm bao gồm Hoa Kỳ, thị trường châu Âu, ASEAN, Nga và các nước Đông Âu, Trung Quốc, châu Phi.

Trong các thị trường xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam, nền kinh tế Hoa Kỳ có dự báo khả quan nhất cho năm 2016 với nhu cầu của thị trường nội địa Hoa Kỳ sẽ tăng mạnh và dự báo sẽ vẫn tiếp tục có cầu ổn định đối với hàng hóa của Việt Nam.

Đó là thông tin vừa được đưa ra tại buổi Tọa đàm Thúc đẩy thương mại nông sản Việt Nam giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Công Thương diễn ra ngày 18/2, tại Hà Nội.

Ông Lê Văn Bảnh, Cục trưởng Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối cho biết, Hoa Kỳ là thị trường không quá khó tính và chưa yêu cầu cao về an toàn thực phẩm và chất lượng, việc tận dụng những ưu đãi từ TPP cũng sẽ là lợi thế cho nông sản Việt Nam trong thời gian tới.

Theo ông Bảnh, trong nhiều năm qua, các mặt hàng như gỗ và sản phẩm của gỗ, hàng thủy sản là những mặt hàng chủ lực, đóng góp tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ.

"Ngoài ra, Hoa Kỳ thường là thị trường dẫn đầu về nhập khẩu các mặt hàng nông sản khác của Việt Nam như: hạt điều, hạt tiêu, càphê và sản phẩm mây tre cói thảm. Đây cũng là thị trường tiêu thụ lớn cao su, chè và rau quả Việt Nam," Cục trưởng Lê Văn Bảnh nói.

Sự hấp dẫn của thị trường Hoa Kỳ cũng đồng nghĩa với sự cạnh tranh xuất khẩu vào thị trường này rất quyết liệt, đặc biệt những đối thủ cạnh tranh lớn của Việt Nam là Trung Quốc, Thái Lan và Indonesia - những nước tương đồng với Việt Nam về các mặt hàng xuất khẩu.

Mặt khác, những rào cản về kỹ thuật và thương mại cũng là khó khăn không nhỏ đối với các doanh nghiệp Việt Nam gần đây như: thuế chống bán phá giá tăng cao đối với cá tra, các yêu cầu của Chương trình thanh tra cá da trơn theo Farmbill 2014 có hiệu lực từ tháng 3/2016.

Do đó, năm 2016, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có kế hoạch tổ chức hoạt động đàm phán tháo gỡ khó khăn vướng mắc đối với cá tra và hoạt động kết nối doanh nghiệp. Dự kiến quý 2 năm 2016, Bộ sẽ mở rộng thị trường xuất khẩu đối với sản phẩm chè tại Hoa Kỳ.

Bên cạnh đó, Hiệp định thương mại tự do với EU đã kết thúc đàm phán và mở ra cơ hội cho ngành nông nghiệp Việt Nam khi 90% hàng hóa vào thị trường này được hưởng mức thuế suất 0%.

Năm nay, ngành nông nghiệp tiếp tục duy trì sự hiện diện các ngành hàng nông lâm thủy sản tại thị trường truyền thống này, nhất là tập trung đột phá vào một số thị trường có mức cầu lớn, có lợi thế để thâm nhập sâu vào các nước châu Âu.

Để chủ động thích ứng với những biến động của kinh tế quốc tế, đảm bảo hội nhập đem lại hiệu quả thiết thực, có chiều sâu và sẵn sàng ứng phó với những vấn đề phát sinh trong thương mại nông lâm thủy sản, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Trần Thanh Nam đề nghị các cơ quan đại diện thương mại của Việt Nam ở nước ngoài, cần tăng cường phối hợp và đảm bảo việc giải quyết kịp thời các rào cản kỹ thuật, các tranh chấp phát sinh trong thương mại nông, lâm thuỷ sản.

Thứ trưởng Nam cũng bày tỏ mong muốn, tăng cường sự phối hợp giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Công thương trong việc tiếp tục thúc đẩy mở cửa thị trường nông lâm thủy sản của Việt Nam ra quốc tế nhằm đa dạng hóa thị trường, giữ vững và phát triển thị trường khó tính, chú trọng các thị trường tiềm năng, dễ tính như các nước Trung Đông (UAE, Saudi Arabia, Iran...), các nước châu Phi, khai thác hiệu quả các thị trường truyền thống như ASEAN, EU. Đồng thời tìm kiếm và đa dạng các hình thức xuất khẩu mới.



Theo CafeF.vn
Hội nhập TPP đem lại nhiều thuận lợi cho xuất khẩu Gạo và đồng thời cũng mang đến rất nhiều sức ép cạnh tranh cho Việt Nam, để có thể tồn tại và đứng vững trên thương trường TPP, Việt Nam cần phải thay đổi từ khâu chọn giống, sản xuất cho đến việc xây dựng thương hiệu cho hạt gạo...

>> Nền Sản Xuất Việt Nam Phải Đối Mặt Với Quá Nhiều Thách Thức


Dù khẳng định hạt gạo VN có nhiều lợi thế hơn các đối thủ khi xuất sang các quốc gia thành viên TPP, nhưng nhiều chuyên gia cho rằng nếu muốn tận dụng được cơ hội, VN phải thay đổi từ khâu chọn giống, sản xuất cho đến việc xây dựng thương hiệu cho hạt gạo.

Trong các thành viên tham gia TPP, trừ Nhật không cam kết trong khi Mexico và Chile sẽ xóa thuế theo lộ trình 8-10 năm, tám quốc gia còn lại đều sẽ xóa thuế ngay cho gạo VN sau khi hiệp định này có hiệu lực. Theo các chuyên gia, đã đến lúc VN cần bắt tay xây dựng thương hiệu gạo một cách bài bản và khoa học để có thể tận dụng được cơ hội này.

Thiếu thương hiệu, mất cơ hội

Theo GS.TS Võ Tòng Xuân, tại các hội chợ lương thực quốc tế ở Thái Lan những năm qua, gạo VN không dám xuất đầu lộ diện mà chỉ có gạo Thái Lan, gạo Campuchia và các nước khác. “Nhắc tới gạo Thái Lan, ai cũng biết Khao Dawk Mali và Hom Mali, Campuchia có gạo Romduol, Myanmar có Paw San và Ấn Độ là gạo Basmati, nhưng chẳng ai biết gạo thơm VN là gì” - ông Xuân nói.

Theo ông Xuân, do không có thương hiệu, gạo Việt đã gặp rất nhiều khó khăn trong cạnh tranh tại các thị trường xuất khẩu thời gian qua, chứ chưa nói đến việc tận dụng từ cơ hội do TPP mang lại.

Trong khi đó, GS.TS Võ Tòng Xuân cho biết tại ngân hàng giống lúa thuộc Trường ĐH Cần Thơ hiện đang lưu giữ tới 1.468 giống lúa vùng Tây Nam bộ, vốn nổi tiếng thơm ngon như: Nàng Thơm Chợ Đào, Nàng Hương, Châu Hạng Võ..., chưa kể một số giống lúa cao sản cũng thơm ngon không kém như: Jasmine 85, ST, Nàng Hoa 9...

“VN có rất nhiều giống lúa tốt, cho gạo thơm ngon nhưng tại sao bị Campuchia qua mặt dễ như vậy dù trình độ sản xuất của họ lạc hậu hơn?” - ông Xuân đặt câu hỏi.

Theo ông Xuân, nguyên nhân là do nông dân chỉ thích trồng giống lúa nào cho năng suất thật cao mà ít quan tâm đến chất lượng thơm ngon, trong khi nông dân các nước trong khu vực chỉ thích trồng giống lúa thơm ngon.

Đặc biệt, theo ông Xuân, chuyện làm ăn chụp giật, trộn gạo thường với gạo thơm để bán ngày càng trầm trọng, gây ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu gạo VN. “Kiểu làm ăn đó góp phần làm cho gạo VN bị mang tiếng xấu khắp thế giới. Nói đến gạo VN, người ta nói thẳng đó là gạo trộn. Quá xấu hổ!” - ông Xuân nói.

Ông Phạm Văn Dư, phó cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT), bức xúc cho biết gạo thơm Jasmine 85 hiện được xuất khẩu với tỉ trọng rất lớn, nhưng nhiều doanh nghiệp (DN) lại đem gạo này trộn với một số loại gạo khác thơm nhẹ hơn, giá rẻ hơn để xuất. Có DN trộn theo yêu cầu của khách hàng, có DN tự ý trộn để phá giá.

“Chỉ riêng giống Jasmine 85, VN đã có tới 13 dòng với chất lượng khác nhau mà DN còn đem trộn với gạo khác nữa thì làm sao đảm bảo chất lượng. Người tiêu dùng nước ngoài ăn và đánh giá không tốt về gạo thơm VN. Hậu quả là cả ngành sản xuất, xuất khẩu lúa gạo VN bị vạ lây. Tôi rất buồn về điều này” - ông Dư tâm tư.

Làm thương hiệu từ khâu... chọn giống

Theo ông Dư, để nâng cao giá trị xuất khẩu của gạo Việt, tận dụng được các cơ hội do TPP mang lại, không còn cách nào khác là phải xây dựng thương hiệu cho gạo Việt và phải bắt đầu từ gốc, đó là chọn giống phù hợp. Dù ĐBSCL là vựa lúa của cả nước nhưng vừa có vùng đất phù sa, vừa có vùng bị nhiễm mặn nên không thể trồng cùng một giống được.

Căn cứ nhu cầu của thị trường thế giới và điều kiện canh tác, ông Dư cho rằng chỉ nên canh tác 4 nhóm giống gồm: lúa thơm đặc sản vùng bị nhiễm mặn; lúa thơm ở vùng đất phù sa; lúa hữu cơ, lúa dược liệu; cuối cùng là lúa hạt dài chất lượng cao.

Đối với vùng đất nhiễm mặn, theo ông Dư, giống lúa thơm ST rất thích hợp, năng suất cao, gạo được một số thị trường chấp nhận... Với vùng đất phù sa nước ngọt quanh năm, giống Jasmine 85 là một lựa chọn.

Ngoài ra, giống Nàng Hoa 9 cho chất lượng không thua kém gạo Khao Dawk Mali của Thái Lan, đang được nông dân các tỉnh ĐBSCL sản xuất với diện tích rất lớn. Nhóm gạo hữu cơ, gạo dược liệu dù giá rất cao nhưng không thể sản xuất đại trà nên các DN cần có chiến lược riêng.

Cùng quan điểm, ông Võ Tòng Xuân cho rằng Nhà nước cần tổ chức bình tuyển các giống lúa ở từng vùng để chọn ra loại ngon nhất. Chẳng hạn, trong hơn 20 dòng của giống ST đặc sản sẽ tìm ra dòng tốt nhất để sản xuất giống siêu nguyên chủng, nguyên chủng, xác nhận cung cấp cho nông dân. Khi đã chọn được giống,

DN phải ký hợp đồng với HTX, cung cấp giống cho nông dân sản xuất theo tiêu chuẩn GAP (an toàn, chất lượng và truy nguyên được nguồn gốc).

Theo ông Xuân, mỗi cánh đồng vài trăm hecta chỉ làm một giống. DN phải cử kỹ sư nông nghiệp theo suốt quá trình sản xuất, đảm bảo sản phẩm đầu vào cho đến đầu ra là gạo đóng gói xuất khẩu đồng nhất về chủng loại và chất lượng, không có gạo khác lẫn vào. Có được sản phẩm chất lượng, DN yên tâm đăng ký nhãn hiệu, quảng bá, tiếp thị ra nước ngoài. Với quy trình này, DN nào làm ăn gian dối sẽ tự bị đào thải.

“Có thể một giống lúa sẽ được đăng ký nhiều nhãn hiệu khác nhau, nhưng tất cả khi xuất ra nước ngoài chất lượng giống nhau và luôn ổn định như vậy thì thế giới sẽ biết gạo VN là gạo gì. Đó chính là thương hiệu gạo Việt”.

Ông Lâm Anh Tuấn - giám đốc Công ty lương thực Thịnh Phát, Bến Tre - cho rằng Bộ NN&PTNT cần phối hợp với các nhà khoa học để chọn được giống lúa ngon nhất và chỉ ra vùng nào trồng giống gì.

DN căn cứ vào nhu cầu thị trường của mình ký hợp đồng với HTX, nông dân sản xuất loại giống xác nhận do cơ quan thẩm quyền cung cấp.

“Nhà nước cũng cần có “hàng rào kỹ thuật”, kiểm nghiệm chất lượng nghiêm ngặt trước khi cho DN xuất khẩu, nếu lô hàng đó không đạt thì không cho xuất để bảo vệ DN và lấy lại uy tín cho gạo VN” - ông Tuấn đề xuất.

Ông Huỳnh Thế Năng (chủ tịch Hiệp hội Lương thực VN):
Phải từ bỏ thói quen sản xuất nhỏ

Việc xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu “gạo Việt” cần có sự phối hợp của tất cả những bên có liên quan gồm: DN, chính quyền địa phương, Nhà nước và nông dân.

Theo đó, DN chủ động chọn sản phẩm để xây dựng nhãn hiệu cho mình trước khi quảng bá, tiếp thị đến người tiêu dùng trong và ngoài nước. Nếu sản phẩm đó có chất lượng ổn định, giá cả cạnh tranh, sản lượng lớn đáp ứng nhu cầu của thị trường thì mới xây dựng thương hiệu.

Chính quyền địa phương cũng phải cùng DN tổ chức lại sản xuất và hỗ trợ các dịch vụ hậu cần thiết yếu. Nhà nước đầu tư xây dựng các phòng xét nghiệm, kiểm nghiệm gạo cho kết quả nhanh, chính xác. Nông dân cũng phải từ bỏ thói quen sản xuất nhỏ mà tham gia HTX để DN có điều kiện liên kết sản xuất lớn.
Ông Lê Hùng Lân 
(giám đốc Công ty hạt giống Hoa Tiên, TP.HCM) 
Nên làm từ giống lúa thuần Việt 
Muốn xây dựng thương hiệu “gạo Việt” phải lấy giống lúa thuần Việt, không nên lấy giống của nước khác rồi gán cho nó cái tên Việt.
Chẳng hạn, giống Jasmine 85 do một nhà khoa học người Mỹ (Hank Beachell) lai tạo từ giống Khao Dawk Mali của Thái Lan với IR262 tại Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), nên nếu chúng ta lấy giống này xây dựng thương hiệu “gạo Việt” có thể gặp rắc rối về bản quyền giống.
Vả lại, nói là gạo Việt mà thực chất là giống lúa của Mỹ thì không hay lắm. VN không thiếu giống lúa thơm ngon hơn cả Jasmine 85 và ngang ngửa với Khao Dawk Mali thì tại sao phải lấy Jasmine 85 đại diện cho mình chứ?
Gạo là một trong những mặt hàng Nhật Bản không xóa bỏ thuế quan ngay khi hiệp định TPP có hiệu lực mà sẽ xóa theo lộ trình. 




Trong buổi họp báo chuyên đề về cam kết TPP trong lĩnh vực tài chính do Bộ Tài chính tổ chức chiều ngày 9/11, ông Vũ Nhữ Thăng, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tài chính cho biết, Nhật Bản cam kết xóa bỏ ngay thuế nhập khẩu đối với 86% số dòng thuế.

Theo lộ trình, vào năm thứ 11 kể từ khi hiệp định có hiệu lực, Nhật Bản sẽ xóa bỏ đối với khoảng 95,6% số dòng thuế.

Tuy nhiên, với các mặt hàng nông sản từ Việt Nam như gạo, thịt, sữa thì những ưu đãi về thuế quan không thực sự lớn.

Ngoài việc không cam kết với mặt hàng gạo, Nhật Bản sẽ áp dụng hạn ngạch thuế quan hoặc cắt giảm một phần hoặc cam kết kèm theo các biện pháp phòng vệ thương mại đối với một số mặt hàng nhạy cảm như thịt trâu bò, thịt lợn, sữa, sản phẩm sữa, lúa mỳ, lúa gạo và các chế phẩm của chúng.

Ngược lại, với ngành thủy sản, khi TPP có hiệu lực, đa số mặt hàng có thế mạnh của Việt Nam được hưởng ngay thuế suất 0% như các mặt hàng cá ngừ vây vàng, cá ngừ sọc dưa, cá kiếm, một số cam kết, surimi, tôm, cua ghẹ,…

Như vậy, toàn bộ các dòng hàng thủy sản không cam kết xóa bỏ thuế trong FTA Việt Nam – Nhật Bản sẽ được xóa bỏ trong TPP với lộ trình xóa bỏ vào năm thứ 6, năm thứ 11 hoặc năm thứ 16 kể từ khi hiệp định có hiệu lực.

Ngoài ra, Nhật Bản cam kết mức thuế 0% với mặt hàng rau quả vào năm thứ 3 hoặc năm thứ 5 kể từ khi hiệp định có hiệu lực.

Vào năm thứ 8 sau khi TPP chính thức có hiệu lực, mặt hàng mật ong được Nhật cam kết xóa bỏ thuế.

Quốc gia này cũng sẽ xóa bỏ thuế của 79,5% kim ngạch mặt hàng giày dép vào năm thứ 10 và các mặt hàng còn lại của ngành giày da vào năm thứ 16. Tương tự thế, mặt hàng vali, túi xách bằng da cũng được xóa bỏ thuế suất vào năm thứ 16.

Xóa bỏ ngay 98,8% số dòng thuế của ngành dệt may. Con số này tương đương 97,2% kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam sang Nhật Bản.

Những mặt hàng còn lại Nhật Bản sẽ có lộ trình xóa bỏ thuế vào năm thứ 10 của hiệp định.

Ông Thăng cũng cho biết, cơ hội hợp tác của Việt Nam với các nước sau khi TPP chính thức có hiệu lực là rất lớn, đặc biệt là với Nhật Bản.

“Trước đó, với hiệp định Việt Nam – Nhật Bản có 1 số mặt hàng vẫn không được mở cửa nhưng khi TPP chính thức được thông qua, các mặt hàng này đều đã được mở cửa hợp tác”, ông Thăng nhấn mạnh.

Theo CafeF
TPP sẽ giúp đào thải những sản phẩm Việt kém chất lượng. Việt Nam tham gia TPP với tư cách là một nước nông nghiệp chứ không phải là công nghiệp. Thế nhưng những sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là sản phẩm chăn nuôi đang bị “đầu độc” ngày càng phổ biến. Do vậy nguy cơ chưa kịp cạnh tranh hội nhập đã chết ngay trên sân nhà là rất gần.




Hàng loạt vụ “đầu độc” thực phẩm như cho lươn ăn thuốc tránh thai, nuôi heo bằng chất tạo nạc… đang làm ngành chăn nuôi và ngành thực phẩm chết ngay trên sân nhà. Chính người tiêu dùng (NTD) trong nước đang có xu hướng sợ dùng thực phẩm trong nước và đang tìm hàng nhập khẩu để thay thế như thịt bò Úc, gà nhập khẩu…

Mất hết niềm tin

Thực phẩm bẩn chứa chất cấm độc hại vài năm trở lại đây đang là vấn đề gây nhiều bức xúc lẫn lo lắng trong dư luận. Thông tin thịt heo có chất tạo nạc tràn lan trên thị trường khiến NTD hoang mang bởi trong cơ cấu các loại thịt sử dụng trong bữa ăn người Việt thì thịt heo chiếm hơn 70%.

Đứng trước ma trận thực phẩm bẩn tràn lan, nhiều NTD hiện nay đang có xu hướng quay sang mua các thực phẩm hữu cơ, có chứng nhận an toàn dù giá có thể đắt hơn nhiều lần. Đặc biệt, NTD trong nước đang có thói quen mua hàng ngoại nhập vì họ tin rằng hàng đó được kiểm dịch chặt chẽ và các nước xuất khẩu này uy tín.

Chị Phương Thảo (quận 3, TP.HCM) cho biết từ khi chị mang bầu, đi mua thực phẩm là thấy lo sợ về chất lượng ảnh hưởng tới con cái mình sau này. Vì vậy, chị chuyển sang mua thực phẩm nhập khẩu từ các nước như Mỹ, Nhật, Canada, Úc, New Zealand… Đa phần chỉ mua củ, quả ngoại nhập, ăn bò Úc. Chỉ có rau xanh chị nói nhập khẩu không có nên phải mua ở các cửa hàng rau hữu cơ (không dùng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học), giá cao gấp 3-8 lần rau thường.

Theo ông Minh, chủ một cửa hàng thực phẩm hữu cơ ở quận Phú Nhuận (TP.HCM), NTD ngày càng tìm đến cửa hàng ông nhiều hơn trước đây. Hàng nhập khẩu có chứng nhận hữu cơ được nhiều người lựa chọn. Khách hàng tìm hiểu thông tin rất kỹ về trang trại trồng rau quả hữu cơ của cửa hàng, đối tác chứng nhận, sản phẩm nhập khẩu. Họ quan tâm đến chất lượng, ăn ít, chấp nhận giá cao nhưng an toàn.

Ông Phạm Đức Bình, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam, cho biết xu hướng mua hàng ngoại nhập đang ngày càng nhiều. Cứ nhìn vào sản lượng nhập khẩu bò Úc tăng lên theo từng năm. Thịt gà Mỹ giá rẻ bất thường nhập về số lượng lớn cũng hoành hành thị trường khiến người nuôi gà trong nước lỗ nặng. Thêm vào đó là thịt heo, bò, gà của Pháp, Ba Lan, Canada và một số nước châu Âu cũng đang xúc tiến việc xuất khẩu sang Việt Nam trong thời gian tới. Chứng tỏ các nhà xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đã nhìn thấy nhu cầu tiêu thụ lớn của thị trường Việt Nam.

“Không phải đợi đến khi Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA), TPP thì hàng ngoại giá rẻ mới có cơ hội tràn vào cạnh tranh, đè bẹp hàng trong nước. Vài năm trở lại đây, chính NTD đã dần quay lưng với thực phẩm trong nước. Thực phẩm bẩn làm NTD lo sợ, họ mua hàng nhập khẩu cho an toàn, thấy rau quả trong nước sợ chẳng khác gì sợ hàng Trung Quốc” - ông Bình chia sẻ.

Mất thị trường xuất khẩu

GS Võ Tòng Xuân, chuyên gia lĩnh vực nông nghiệp, cho biết những vụ “đầu độc” thực phẩm không chỉ ảnh hưởng tới NTD, làm loạn thị trường trong nước mà ảnh hưởng lớn đến các ngành hàng xuất khẩu.

GS Xuân cho rằng hàng xuất khẩu làm tốt chất lượng nhưng “con sâu làm rầu nồi canh”, những thông tin xấu trong nước sẽ lọt tới tai các nhà nhập khẩu, nhà quản lý và NTD ở các thị trường nhập khẩu hàng Việt Nam. Điều này ảnh hưởng rất lớn, như thông tin trà dùng nhiều thuốc bảo vệ thực vật, dư lượng cao, trái cây, cá nuôi dùng nhiều thuốc kháng sinh… sau khi trong nước phát hiện. Lập tức truyền thông nước ngoài đưa tin cơ quan quản lý kiểm chặt, dựng hàng rào kỹ thuật với tiêu chí khắt khe hơn khiến việc xuất khẩu khó khăn hơn.

Ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), lo ngại thực phẩm bẩn không chỉ ảnh hưởng uy tín, chất lượng hàng xuất khẩu mà có thể dẫn đến mất thị trường xuất khẩu đối với nhiều ngành hàng. Con tôm xuất khẩu sang Trung Quốc quá dễ dãi về chất lượng khiến thương lái, thậm chí doanh nghiệp (DN) tổ chức bơm tạp chất vào tôm để tăng trọng lượng kiếm lợi nhuận khổng lồ. Nguồn nguyên liệu cho xuất khẩu những thị trường khác bị thiếu trầm trọng vì người nuôi tập trung bán cho thương lái xuất sang Trung Quốc được giá hơn.

Theo ông Hòe, thiếu nguyên liệu, nguyên liệu kém chất lượng khiến DN không đáp ứng được những hợp đồng lớn, mất dần thị trường. Chưa kể những thị trường khó tính, họ kiểm chặt nếu có lô hàng nào vi phạm nhiều lần sẽ tạm ngưng nhập khẩu, thiệt hại cho cả ngành.

Theo CafeF
Thử thách với ngành mia đường Việt Nam khi hội nhập TPP. Trong khối TPP, Hoa Kỳ, Mexico và Úc là các quốc gia sản xuất mía đường lớn trên thế giới. Việc cắt giảm thuế nhập khẩu trong hạn ngạch cho đường từ các quốc gia này sẽ khiến cho việc cạnh tranh giá trong ngành đường càng trở nên gay gắt hơn...




Trong báo cáo mới cập nhật về ngành mía đường Việt Nam trước hội nhập, Công ty chứng khoán Bản Việt (VCSC) nhận định, mặc dù được bảo hộ, nhưng ngành mía đường Việt Nam vẫn đang bị cạnh tranh khốc liệt do nhập lậu và gian lận thương mại.

Ngành được bảo hộ

Theo đó, mức thuế suất nhập khẩu trong hạn ngạch dao động từ 25% (cho đường thô) đến 40% (cho đường tinh luyện) và mức thuế nhập khẩu đường ngoài hạn ngạch từ 80-100%. Năm 2015, Việt Nam chỉ cấp hạn ngạch nhập khẩu cho 81.000 tấn đường.

Sản lượng đường sản xuất trong nước hiện đạt khoảng 1,4-1,6 triệu tấn/năm. Lượng đường này chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước. Có một phần nhỏ được xuất khẩu sang Trung Quốc qua đường tiểu ngạch, tuy nhiên hiện nay kênh tiêu thụ này đang gặp khó khăn do chính sách đóng biên của Trung Quốc.

Giá đường trong nước chịu sự chi phối theo cung cầu thị trường tự do. Hiện giá đường bán lẻ trong nước khoảng 17.000-20.000 đồng/kg, cao hơn khoảng 1.000-3.000 đồng so với các nước trong khu vực. Do chênh lệch giá, đường sản xuất trong nước bị cạnh tranh bởi lượng hàng nhập lậu và gian lận thương mại.



Ngành mía đường vẫn đang đối mặt với tình trạng cung vượt cầu

Theo số liệu năm 2014, lượng đường nhập lậu và gian lận thương mại lên tới 400.000 – 500.000 tấn (chủ yếu từ Thái Lan). Ngoài ra, từ năm nay thị trường đường trong nước sẽ có thêm nguồn cung mới từ Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai sản xuất tại Lào với hạn ngạch được cấp phép là 50.000 tấn.

Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, hiện cả nước có khoảng 41 nhà máy đường, với công suất trung bình 1 nhà máy là 3.250 TMN, thấp hơn nhiều so với công suất trung bình của 1 nhà máy ở Thái Lan, Ấn Độ, Brazil là 7.000- 8.000 TMN.

Hiện cả nước có khoảng 300.500 ha diện tích trồng mía, tỷ lệ cơ giới hóa trong canh tác mía chỉ đạt 10%- 20% so với tỷ lệ 80%-90% của các nước sản xuất đường lớn trên Thế giới. Trong khi năng suất mía trung bình thế giới là 70 tấn mía/ha, năng suất mía hiện tại của Việt Nam chỉ đạt 65 tấn mía/ha.

Việc không tận dụng sản xuất phụ phẩm cũng là một trong các lý do khiến chi phí sản xuất của các nhà máy Việt Nam cao hơn các nước khác. Do chi phí sản xuất đường trong nước quá cao, bình quân giá thành sản xuất 1 kg đường của các nhà máy trong nước khoảng 10.000 đồng/kg, cao hơn khoảng 25% so với các nước khác.

“Lâm nguy” khi hội nhập?

Báo cáo của VCSC nhận định, trong ngắn hạn, giá đường thế giới đang hồi phục và có thể sẽ tiếp tục đà tăng do nguồn cung suy giảm. Giá đường hiện đã tăng trở lại 30% so với mức đáy hồi tháng 8 năm nay. Giá đường thế giới tăng sẽ làm hạn chế lượng cung từ nhập lậu hoặc gian lận thương mại, qua đó sẽ thúc đẩy gia tăng sản lượng tiêu thụ đường sản xuất trong nước.

Bên cạnh đó, Dự thảo Nghị định về sản xuất và kinh doanh mía đường đang được Bộ NN&PTNT và Hiệp hội Mía đường Việt Nam đưa ra lấy ý kiến. Theo Dự thảo, các vấn đề về việc thu mua mía được quy định theo hướng bảo vệ lợi ích cho người nông dân nhiều hơn, nhằm ổn định nguồn nguyên liệu cho ngành mía đường.

Tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với việc tăng thêm áp lực cho các nhà máy đường khi phải mua mía nguyên liệu với giá cao hơn.

“Trong dài hạn, Hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA) sẽ là một thách thức lớn nếu ngành mía đường Việt Nam không cải tiến phương thức và quy mô sản xuất” – báo cáo cho biết.

Theo AFTA, đến năm 2018, ngành đường Việt Nam sẽ phải mở cửa hoàn toàn cho đường của các nước ASEAN, đồng nghĩa đường nhập khẩu từ ASEAN vào Việt Nam sẽ chỉ ở mức thuế 5% và không phải chịu hạn ngạch thuế quan. Đây sẽ là một khó khăn lớn đối với ngành khi mà đường Thái Lan có thể chính thức vào Việt Nam với số lượng không bị hạn chế ở mức thuế suất thấp.

Ngoài ta, TPP cũng sẽ đem đến những bất lợi không nhỏ đối với ngành mía đường. Nếu TPP chính thức được ký kết, Việt Nam sẽ phải dỡ bỏ hoàn toàn thuế trong hạn ngạch cho các mặt hàng đường nhập khẩu từ các nước TPP trong vòng 11 năm (hạn ngạch nhập đường vẫn sẽ thực hiện theo cam kết WTO là tăng 5% mỗi năm).

“Trong khối TPP, Hoa Kỳ, Mexico và Úc là các quốc gia sản xuất mía đường lớn trên thế giới. Vì vậy, việc cắt giảm thuế nhập khẩu trong hạn ngạch cho đường từ các quốc gia này sẽ khiến cho việc cạnh tranh giá trong ngành đường càng trở nên gay gắt hơn” – VCSC nhận định.


Việt Hoàng

Theo Trí thức trẻ

Các sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam chịu nhiều sức ép. Sức ép không chỉ từ sản phẩm nhập khẩu bên ngoài mà còn mối lo về vệ sinh an toàn thực phẩm của người tiêu dùng.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan đã chia sẻ như vậy trước những băn khoăn lo ngại của độc giả đối với ngành chăn nuôi khi Việt Nam tham gia hiệp định TPP, tại buổi giao lưu trực tuyến trên Zing.vn mới đây.


TPP và nỗi lo an toàn vệ sinh thực phẩm của người Việt

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho biết, trong thời gian gần đây, các sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam chịu nhiều sức ép. Sức ép không chỉ từ sản phẩm nhập khẩu bên ngoài mà còn mối lo về vệ sinh an toàn thực phẩm của người tiêu dùng.

Bà Lan cũng thừa nhận thực tế rằng các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, đặc biệt trong nông nghiệp có thái độ dè dặt hơn trước TPP cũng là vì họ thấy được tuy có cơ hội lớn những chưa chắc họ đã là người có thể nắm bắt được ngay. "Sức cạnh tranh của họ hiện nay vẫn yếu tương đối so với các đối thủ bên ngoài và môi trường kinh doanh ở Việt Nam vẫn thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp FDI so với các doanh nghiệp tư nhân trong nước"- Bà Lan nói.

Tuy nhiên, bà Lan khẳng định: "Tôi tin khi chúng ta thực hiện tốt công cuộc tái cơ cấu nông nghiệp hiện nay, đặc biệt trong lĩnh vực chăn nuôi thì những người chăn nuôi có thể cải thiện một cách cơ bản năng lực cạnh tranh bằng các nhân tố: chất lượng vệ sinh, an toàn thực phẩm, giá cả cũng như cách thức tiêu thụ. Đồng thời, sản phẩm có được niềm tin trong người tiêu dùng".

Theo kỳ vọng của chuyên gia kinh tế này, đông đảo người tiêu dùng Việt Nam sẽ ủng hộ sản phẩm gia cầm trong nước. Vì sản phẩm trong nước là sản phẩm tươi, chất lượng hơn hẳn so với sản phẩm đông lạnh nhập khẩu từ những thị trường đông lạnh Mỹ - Australia sang Việt Nam."Ngay bản thân tôi rất ghét ăn gà đông lạnh và tôi nghĩ rất nhiều người cũng vậy", bà Lan chia sẻ

Do đó, bà Lan nhấn mạnh rằng, doanh nghiệp trong nước cần có lộ trình để thực hiện việc mở cửa thị trường. Các nhà chăn nuôi Việt Nam và các ngành liên quan khẩn trương thực hiện những công việc cần thiết để kịp đón đầu những cơ hội và thách thức của TPP trong lĩnh vực của mình.

Trong khi đó, Tiến sĩ Võ Trí Thành - Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương cho hay " không có gì là hoàn hảo, kể cả với TPP. Nhưng điều đầu tiên để chọn chơi là hiệu ứng tích cực phải lớn hơn tiêu cực rất nhiều. Nếu chúng ta tận dụng tốt cơ hội, Việt Nam sẽ được hưởng lợi rất nhiều. Đó là lợi ích ròng (tích cực trừ tiêu cực) rất lớn".

Tiến sĩ Võ Trí Thành cho rằng cần có những lập luận cả góc độ tiêu cực và tích cực để nhận định rõ hơn năng lực, thực trạng của doanh nghiệp trong nước. Qua đó đưa ra những giải pháp ở góc độ Chính phủ, doanh nghiệp, người dân, nhằm tìm ra cách tận dụng tốt nhất cơ hội, giảm thiểu tác động tiêu cực đến doanh nghiệp cũng như đối với nền kinh tế.

"Doanh nghiệp trong nước cần hơn là tự tin, bình tĩnh và đằng sau đó là khát vọng mang tính hiện thực. Tôi không thích dùng chữ chết đối với ngành chăn nuôi trước TPP, mặc dù nông nghiệp và một số ngành khác được xem là ảnh hưởng tiêu cực từ hội nhập TPP. Vấn đề ở đây là làm sao giảm thiểu quá trình chuyển đổi, điều chỉnh những lĩnh vực này". ông Thành nói.

Theo đó, Tiến sĩ Võ Trí Thành khuyến nghị cần điều chỉnh lĩnh vực này như mở rộng cửa những ngành nghề có lợi thế cạnh tranh và được hưởng lợi từ TPP. Ví dụ ngành thép, được xem là sức cạnh tranh chưa tốt nhưng nhiều doanh nghiệp đang xuất khẩu thép ra bên ngoài. Như vậy, trong khó khăn vẫn còn những yếu tố để tồn tại.
TPP đến, người ta nói rằng bây giờ nền sản xuất Việt Nam đứng trước “cơ hội và thách thức”. Thật ra thách thức và cơ hội cho nền sản xuất đều đã có từ lâu, chỉ có điều ta bỏ quên nó trong những cơn sốt ảo.


Ông Nguyễn Duy Hưng: “Chúng ta cứ tưởng mình giàu”

Mối nguy từ thị trường

Vài năm trước, một hãng bánh kẹo lớn của Hàn Quốc đổ vốn vào một công ty của nước ta kèm lời tuyên bố “chỉ đầu tư tài chính” chứ không hề có ý định thâu tóm công ty bản địa. Nhưng sau khi không ngừng tăng tỷ lệ sở hữu, hãng Hàn Quốc khiến người trong cuộc lo sợ. Công ty nội địa kia, dưới sức ép của cổ đông lớn, “không được khai thác sản phẩm mong muốn”, mà đầu tư dây chuyền hướng tới việc... chỉ sản xuất bánh của hãng Hàn Quốc.

Sau một cuộc chiến tốn nhiều giấy mực giữa các nhà đầu tư trong nước với đại tập đoàn Hàn Quốc, mọi chuyện tạm yên, nỗi lo bị thâu tóm và trở thành một công ty Hàn Quốc đóng tại Việt Nam lắng xuống nhưng chưa rõ bao lâu.

Đã không có ít thương hiệu thực phẩm Việt bị thâu tóm sau những cái bắt tay hồn nhiên. Sau khi bị “ngoại hóa”, họ chỉ còn sản xuất thực phẩm ngoại đóng mác Việt Nam.

“Nền ẩm thực có thể thay đổi, văn hóa có thể biến dạng” - ông Nguyễn Duy Hưng, chủ tịch PAN Group, một trong những nhà đầu tư lớn nhất của ngành nông nghiệp và thực phẩm Việt Nam bày tỏ lo ngại - “Họ không cần sản phẩm của chúng ta. Họ mua công ty trong nước chỉ để lấy hệ thống phân phối và thị trường”. Đó không phải là chuyện của các Hiệp định thương mại tự do hay TPP nào cả. Những thách thức bị thôn tính thị trường đã xuất hiện dày đặc kể từ sau thời mở cửa.

Khác với nhiều loại sản phẩm, thị trường thực phẩm, hay nói cách là đồ ăn thức uống, nếu bị thôn tính có thể đánh “trốc rễ” một nền văn hóa. Ở Nhật, trong thập kỷ trước, dấy lên một khái niệm gọi là “Trận Okinawa thứ 2”. Sau khi thua trong trận Okinawa “xịn” vào năm 1945 khiến hòn đảo này bị quân Mỹ chiếm đóng, dân Okinawa trở thành những người đầu tiên của nước Nhật ăn đồ Mỹ, trước Tokyo gần một thập kỷ. Văn hóa của hòn đảo này biến đổi.

“Các nghiên cứu chỉ ra rằng chúng tôi ăn nhiều chất béo hơn, hút thuốc nhiều hơn mức trung bình của Nhật” - cơ quan y tế địa phương nói, trong báo cáo năm 2006. Hòn đảo này từng là nơi cư trú của những người sống thọ nhất nước Nhật. Nhưng tỷ lệ người sống lâu liên tục giảm xuống – bởi họ bị thay thế bởi một thế hệ lớn lên mà chỉ ăn đồ Mỹ, rời bỏ cá và đậu nành truyền thống: một nửa số đàn ông tứ tuần ở Okinawa bị béo phì – điều khiến nước Nhật sợ hãi.

Nhật Bản cũng là một trong những nước có ý thức sớm nhất về việc giành giật miếng bánh trên thị trường thực phẩm để bảo vệ nền văn hóa. Người ta kể chuyện về những lão nông Nhật, cầm cơm nắm đến trước cổng trường để phát cho các cháu nhỏ, thuyết phục chúng rằng ăn gạo rất ngon, chống lại sự “xâm lăng” của bột mì. Nói như liên tưởng của ông Hưng, nếu dân Việt Nam không thể bảo vệ thị trường thực phẩm trong nước, đến một ngày phở không còn mà ăn.

Nền sản xuất bị coi thường

Nền sản xuất của Việt Nam đã chuẩn bị thế nào từ khi mở cửa để đương đầu với “quyền lực mềm” của các quốc gia khác, thông qua thị trường nông sản, thực phẩm? Câu trả lời là rất ít.

“85% dân số Việt Nam xuất phát từ đồng ruộng và sống nhờ đồng ruộng. Đến một ngày đẹp trời, người ta quên mất điều đấy” - ông Nguyễn Duy Hưng chia sẻ - “Người ta biến đồng ruộng thành khu đô thị. Vốn liếng của cải trong xã hội trở thành hàng tồn kho sau cơn sốt bất động sản”.

“Chúng ta cứ nâng giá tài sản lên, và khi nó còn tính thanh khoản thì chúng ta tưởng rằng mình giàu” - nhà đầu tư này phân tích một lần nữa về “giá trị ảo” trong cơn sốt này, điều khiến cho vốn liếng xã hội không được đầu tư vào sản xuất.

Bây giờ là lúc cần quay trở lại nghĩ về nông sản, thực phẩm, những thứ mà Việt Nam có lợi thế. “Gia công (công nghiệp) thì chỉ bán sức thôi. Giá trị vẫn nằm trong tay những người nắm giữ thương hiệu và phân phối” - ông Hưng tuyên bố - “Trong khi nông sản Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra thương hiệu”.

Rất nhiều chuyên gia, trong đó có cả cố vấn an ninh lương thực của Nhà trắng, tiến sỹ Rick Gilmore, người vừa tới Việt Nam hồi cuối tháng 9 vừa qua, tuyên bố nước ta có thể trở thành “tay chơi lớn” trên thị trường nông sản thế giới với những tiềm năng sẵn có.

Vấn đề bây giờ là ai sẽ bắt đầu? Không có một cơn sốt nào trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp như đã từng có thời nhà nhà mở sàn giao dịch bất động sản. Một vài nhà đầu tư dường như cũng đang nhìn thấy cơ hội này. Bản thân ông Nguyễn Duy Hưng, với tư cách một nhà đầu tư cũng đã từ lâu lên chiến lược xây dựng một chuỗi giá trị trong nông nghiệp thông qua PAN Group. Ông Hưng đầu tư vào hàng loạt các công ty nông nghiệp và thực phẩm đang làm ăn tốt ở trong nước, từ Công ty cổ phần giống cây trồng TW, Công ty thủy sản Bến Tre,.. với mong muốn xây dựng thành một chuỗi giá trị.

PAN Group từ chối thừa nhận rằng mình đang thực hiện “sứ mệnh” với nông nghiệp Việt Nam. “Mục tiêu của chúng tôi là kiếm tiền, nói sứ mệnh nghe to tát quá” - ông Hưng nói. Tuy nhiên, thời kỳ “hậu bất động sản” sẽ vẫn phải có những người tiên phong. Đó sẽ là PAN Group, Vingroup, HAGL, những nhà đầu tư lớn trong nông nghiệp, hay là một anh nông dân ở Đồng Tháp đang loay hoay với phương thức trồng gạo sạch mà không biết bán cho ai?

Theo Phong Huyền
Tiền phong
Hiệp định TPP đã được kết thúc đàm phán giữa 12 nước vào ngày 4/10/2015 vừa qua. Đây là một hiệp định với nhiều tham vọng và tiêu chuẩn cao hướng tới việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hỗ trợ và tạo ra việc làm, thúc đẩy quản lý hiệu quả & minh bạch, bảo vệ môi trường... với các nước tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.



Hiệp định gồm 30 chương đưa ra các quy định và nguyên tắc thương mại từ hải quan, rào cản kỹ thuật, biện pháp vệ sinh dịch tễ tới đầu tư, thương mại điện tử, mua sắm công...

Sau đây là phần 1 tóm tắt sơ bộ với các chương chính theo nội dung bản tóm tắt được các nước công bố ngày 5/10/2015 vừa qua. 
Tóm tắt nội dung Hiệp định TPP
Tóm tắt nội dung Hiệp định TPP
Tóm tắt nội dung Hiệp định TPP
Tóm tắt nội dung Hiệp định TPP
Tóm tắt nội dung Hiệp định TPP
Tóm tắt nội dung Hiệp định TPP
Tóm tắt nội dung Hiệp định TPP
Tóm tắt nội dung Hiệp định TPP
Tóm tắt nội dung Hiệp định TPP
Tóm tắt nội dung Hiệp định TPP
Tóm tắt nội dung Hiệp định TPP
Tóm tắt nội dung Hiệp định TPP
Tóm tắt nội dung Hiệp định TPP
Tóm tắt nội dung Hiệp định TPP
Nguồn: EZLAW
TPP dự kiến sẽ có hiệu lực từ năm 2018, khi đi vào hiệu lực TPP sẽ mang lại rất nhiều thay đổi đến Việt Nam, đặc biệt là với kinh tế. Sau đây là bảng tổng kết sơ bộ những mặt hàng nông nghiệp từ 11 thành viên khác trong TPP sẽ được miễn thuế nhập khẩu vàoViệt Nam. Không những thị trường mà ngành công nghiệp sản xuất và dịch vụ liên quan đến các mặt hàng, sản phầm này chắc chắn cũng sẽ bị ảnh hưởng.

Nguồn thông tin từ Bộ Nông Nghiệp Mỹ (http://www.fas.usda.gov/)