Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam nói để đạt được trọn vẹn các lợi ích từ TPP, Việt Nam cần thực hiện tất cả các cam kết trong đó có việc giảm bớt vai trò doanh nghiệp nhà nước.


Ông Ted Osius đã có 25 năm làm ngoại giao, với phần lớn thời gian làm việc ở châu Á.

Trả lời phỏng vấn với Nguyễn Hoàng của BBC Tiếng Việt tại Hà Nội vào đầu tháng này, ông Ted Osius cũng nói rằng Việt Nam nên tận dụng lợi thế là nước tham gia sớm và hưởng lợi kinh tế từ thỏa thuận TPP.

BBC: Thỏa thuận TPP đã được ký kết. Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama nói rằng TPP là một dạng thỏa thuận mậu dịch mới "đặt quyền lợi của người lao động Mỹ là trên hết". Ông có nghĩ rằng điều này cũng đúng với trường hợp người lao động ở Việt Nam hay không?

Vâng tôi cũng nghĩ vậy. Có một thỏa thuận mạnh mẽ về lao động trong TPP. Thực ra là có thỏa thuận cụ thể giữa Hoa Kỳ và Việt Nam về quyền của người lao động. Và Việt Nam đã quyết định đưa ra những cam kết phù hợp với chính sách chung của Việt Nam là hội nhập quốc tế toàn diện và đã quyết tâm tuân thủ tất cả các tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) liên quan tới quyền của người lao động nên đây là một bước đi quan trọng. Tôi nghĩ rằng bước đi này tốt cho người lao động Việt Nam và tốt cho tất cả các nước tham gia thỏa thuận TPP đã được ký.

BBC: Hoa Kỳ và Việt Nam vào năm 2001 ký kết hiệp định thương mại song phương (BTA). Tới nay là hơn 15 năm việc thực hiện thỏa thuận này nhưng Hoa Kỳ vẫn xem Việt Nam là nước có nền kinh tế phi thị trường. Do đó đối với TPP phải chăng cũng cần phải có thời gian để thực hiện sao cho hợp lý?

Đúng là cần phải có thời gian để thực hiện các cam kết. Hầu hết các cam kết của Việt Nam phải được thực hiện trước khi TPP có hiệu lực. Tức là khoảng hai năm nữa kể từ lúc này. Có một số cam kết theo lộ trình trong lĩnh vực thuế quan. Có một số lĩnh vực mà Việt Nam đã đàm phán để có được lộ trình phù hợp nhằm tạo điều kiện cho một số ngành trong nước có thêm thời gian để điều chỉnh.

Về lao động thì phần lớn các cam kết phải được thực hiện trước khi thỏa thuận có hiệu lực. Do hệ thống lập pháp và hệ thống chính trị của Việt Nam nên có thể cần phải mất nhiều thời gian hơn và phải được thực hiện trong vòng 5 năm. Do đó đối với một số ít các cam kết thì cần có thêm thời gian thực hiện nhưng hầu hết mọi cam kết phải được thực thi khi hiệp định này bắt đầu có hiệu lực.

Cuộc phỏng vấn với Đại sứ Osius được thực hiện tại tư dinh của ông và gia đình ở Hà Nội.

BBC: Khác với một số nước tham gia TPP, Việt Nam có đặc thù là nền kinh tế do nhà nước nắm phần chủ đạo. Khi Việt Nam tham gia TPP thì ông nghĩ rằng để hưởng lợi toàn diện từ thỏa thuận này thì Việt Nam đối diện những thách thức gì?

Để có thể đạt được trọn vẹn các lợi ích từ TPP thì Việt Nam phải thực hiện tất cả các cam kết của mình. Đó là vì Việt Nam sẽ không hưởng lợi được chừng nào mà Việt Nam hoàn thành quá trình thực hiện cam kết của mình. Để thực sự có được đầy đủ các lợi ích bao gồm dịch chuyển được lên chuỗi giá trị, cũng như cắt giảm một số dòng thuế, tham gia vào 40% nền kinh tế thế giới, thì Việt Nam cần phải mở rộng khu vực kinh tế tư nhân. Và TPP đã mở ra một hướng để Việt Nam có thể thực hiện được điều mà Việt Nam muốn làm bấy lâu nay, theo đó phải giảm bớt vai trò của các doanh nghiệp nhà nước và tăng cường vai trò của khu vực tư nhân.

Sẽ có thách thức đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ để tận dụng một cách toàn diện lợi ích của TPP theo đó doanh nghiệp cần nâng cao nhận thức. Tuy nhiên tôi nghĩ rằng chính phủ Việt Nam khá nghiêm túc bắt tay vào chiến dịch nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp ngay lúc này. Tôi thấy Việt Nam không hề do dự. Đại hội Đảng mới đây đã nhất trí cho việc thông qua TPP và tôi thấy đã có sự chủ động cao trong việc triển khai việc nâng cao nhận thức cho lĩnh vực nông nghiệp và các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam đối với những lợi ích mà TPP có thể mang lại.

BBC: Việt Nam và Hoa Kỳ đã ký thỏa thuận đối tác toàn diện, trong chừng mực nào TPP sẽ là lực đẩy mạnh hơn cho quan hệ Mỹ-Việt?

Tôi nghĩ là vô cùng lớn. TPP là ưu tiên số một của chúng tôi và tôi nghĩ rằng thỏa thuận này tạo ra nền tảng cho các mối quan hệ trong nhiều thập kỷ tới bởi vì nó làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác kinh tế, giúp Việt Nam trở nên thịnh vượng hơn, mạnh hơn và độc lập hơn và tạo cơ hội cho các quốc gia tham gia khu vực tư nhân trong thời gian dài nữa. Vì vậy, tôi nghĩ rằng thỏa thuận này là sự đóng góp rất lớn.

Theo BBC
Những ngày cuối cùng của năm 2015, dù bận nhiều công việc nhưng những người tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) vẫn dành thời gian để tham gia các cuộc phổ biến nội dung của TPP cho DN và cả các cơ quan truyền thông từ trong Nam cho đến ngoài Bắc.

Các nhà lãnh đạo của các nước tham gia đàm phán TPP nhóm họp tại Bắc Kinh, Trung Quốc ngày 10-10-2014. (Ảnh: AFP)

Thông thương bằng những con kênh lớn

Ông Lương Hoàng Thái, Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương), Phó Trưởng đoàn đàm phán TPP chia sẻ, trước đây, Việt Nam thường tham gia hội nhập với tư cách “người đến sau”, chọn sân chơi mang tính vừa phải trong khu vực, nòng cốt là ASEAN, tính chủ động trong việc lựa chọn đối tác không có. Tuy nhiên, đến năm 2015 quá trình hội nhập đã có bước thay đổi, phần lớn những Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam tham gia đều mang tính chủ động cao trong việc lựa chọn đối tác, sao cho có lợi nhất cho mình. “Khi gia nhập WTO, chúng ta gọi là đi ra biển lớn, có một quy định chung áp dụng cho các nước. Nhưng thời gian gần đây, động lực thúc đẩy thương mại thế giới trong WTO bắt đầu chững lại. Trong nhiều năm qua, hầu như WTO không đưa ra kết quả nào về thúc đẩy thương mại. Vì vậy, các nước có sự suy tính đổi cách chơi mới là hình thành các FTA với quy mô lớn. Thay vì cách chơi ra biển lớn, chúng ta lại đào những con kênh thông thương thị trường với nhau - những con kênh lớn”, ông Thái nói.

“Con kênh” được nhắc đến nhiều nhất, quan tâm nhiều nhất, tác động lớn nhất là TPP bởi đây là Hiệp định có quy mô thương mại, kinh tế chiếm gần 40% GDP toàn cầu, đồng thời là Hiệp định mở tạo tiêu chuẩn mới cho các nước tham gia. TPP là Hiệp định tương đối phức tạp, nội dung cam kết sâu gồm 30 chương khác nhau với nhiều nội dung cụ thể.

Ông Thái nhìn nhận, khi nói đến một FTA, phần đầu tiên người ta nghĩ đến là các nước mở cửa thị trường cho nhau thế nào. Với TPP, nội dung Việt Nam quan tâm nhất là phần mở cửa thị trường hàng hóa. “Đối với các lĩnh vực mở cửa thị trường khác như dịch vụ, đầu tư, mua sắm công…, Việt Nam cũng có những lợi ích nhưng ở mức hạn chế hơn rất nhiều, lợi ích của Việt Nam chủ yếu nằm ở việc các nước mở cửa cho thị trường hàng hóa như thế nào”, ông Thái khẳng định.

Điều gì gây tranh cãi lớn nhất?

Rất nhiều người tò mò muốn biết, nội dung gây tranh cãi lớn nhất trong quá trình đàm phán TPP là gì bởi Hiệp định này có khá nhiều nội dung mới đối với Việt Nam như mua sắm Chính phủ, DN Nhà nước, hay lao động...? Ông Thái cho biết, lao động cũng là lĩnh vực đàm phán tương đối khó khăn. “Hiện Trung ương đang họp và đây là lần đầu tiên Trung ương xem xét một Hiệp định trước khi ký kết và phê chuẩn”. Trong khi các nước TPP không có vấn đề gì bởi TPP chỉ đặt ra tiêu chuẩn đối với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), thì riêng Việt Nam có nội dung công đoàn tương đối khác với các nước. Việt Nam chỉ có một tổ chức là Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam mà không có nhiều tổ chức lao động như các nước. Cuối cùng, đoàn đàm phán đã đạt được thỏa thuận duy trì cơ chế chỉ có một Tổng Liên đoàn Lao động, tổ chức chính trị - xã hội duy nhất trong nội dung này. Theo đó, Việt Nam cho phép thành lập tổ chức đại diện cho người lao động tại cơ sở (tức DN) để người lao động đạt được đàm phán tốt nhất với giới chủ. Tuy nhiên, đây không phải là vấn đề gây tranh cãi lớn nhất.

Theo “tiết lộ” của những người đi đàm phán, nội dung gây tranh cãi lớn nhất của các nước và cũng “thời điểm nút thắt” của TPP là đàm phán về quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có vấn đề bảo hộ đối với dược phẩm bởi đây là mặt hàng cực kỳ nhạy cảm với tất cả các nước. Chính sách tác động đến mặt hàng này có thể tác động đến giá thuốc, từ đó tác động đến quyền tiếp cận thuốc của người nghèo. Vì vậy, đã có sự tranh cãi cao giữa các nước phát triển muốn đặt tiêu chuẩn cao, đặc biệt là trong việc bảo hộ dữ liệu thử nghiệm của dược phẩm đó. “Cuối cùng, chúng ta đạt cam kết hợp lý là duy trì chế độ áp dụng trước đây đã bảo hộ trong FTA song phương với Mỹ. Nhưng tới đây khi kinh tế phát triển, 15 năm nữa chúng ta mới phải thực thi tiêu chuẩn cao hơn”, ông Thái khẳng định.

Đặc biệt, ở gần vòng đàm phán cuối cùng, riêng chương sở hữu trí tuệ có trên 100 vấn đề chỉ có Việt Nam “vướng”, trong đó có nhiều vấn đề liên quan cách làm của chúng ta tương đối khác. Ví dụ, mảng lớn nhất là xử lý vi phạm sở hữu trí tuệ như thế nào. Trước đây chúng ta hay dùng công cụ hành chính, rất ít khi vi phạm sở hữu trí tuệ đưa ra tòa, thậm chí có những trường hợp thanh tra Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch vào kiểm tra phần mềm DN có vi phạm bản quyền hay không và phạt tại chỗ. Cách làm của chúng ta tiện, nhanh song không có quy trình để các bên tranh tụng như tại tòa án. Do vậy, với TPP chúng ta sẽ phải thay đổi để phù hợp với cách làm chung.

Dệt may “ẵm” thêm 250 triệu USD

Trong lĩnh vực hàng hóa, dệt may là mối quan tâm rất lớn của Việt Nam, thậm chí nhiều người còn đánh giá đây là lợi ích cốt lõi của Việt Nam khi tham gia TPP. Chẳng thế mà trong TPP có riêng một chương về dệt may. Tuy nhiên, XK dệt may của Việt Nam hiện đang bị các nước đánh thuế rất cao. Ví dụ như thị trường Mỹ, XK dệt may sang Mỹ mỗi năm phải đóng tới 1,4 tỷ USD tiền thuế NK, chưa kể mặt hàng giày dép phải đóng hơn 300 triệu USD. Như vậy, chỉ riêng 2 mặt hàng này tiền thuế mà DN Việt Nam phải đóng cho Mỹ đã lớn hơn cả tiền thuế tất cả các nước tham gia TPP phải đóng khi XK vào Mỹ, dù họ còn XK nhiều hơn Việt Nam. Chính vì vậy, trong quá trình đàm phán, đoàn đàm phán quyết tâm bãi bỏ rào cản này để Mỹ đưa thuế dệt may về 0% thay vì mức thuế trung bình trên 17% như hiện nay. Song đổi lại, Mỹ cũng có quan ngại, e sợ hàng dệt may lấy nguồn từ nguồn khác vào Việt Nam, nhất là những nước láng giềng nên họ muốn có quy tắc xuất xứ chặt. Theo đó, Việt Nam phải làm được hàng dệt may từ sợi trở đi nếu muốn được hưởng ưu đãi thuế. “Tất nhiên, cũng có một số linh hoạt chúng ta đàm phán được với một số sản phẩm mà trong TPP có nguồn cung thiếu hụt có thể NK”, ông Thái cho hay.

Có một thông tin đáng chú ý của ngành dệt may có lẽ không phải ai cũng được biết nếu không có sự chia sẻ của ông Lương Hoàng Thái: “Giai đoạn kết thúc đàm phán cuối cùng TPP, anh em trong đoàn đàm phán tưởng là kết quả rất tốt rồi, tiết kiệm 850 triệu USD thuế dệt may trên tổng số 1,4 tỷ USD tiền thuế Mỹ thu hàng năm. Tuy nhiên, khi mang kết quả về, Thủ tướng bảo không được, rồi “gọi” Đại sứ Mỹ lên và “kéo” Tổng thống Obama ở Hội nghị ASEAN để... đấu tranh. Cuối cùng, chúng ta thỏa thuận thêm 250 triệu USD, tức là tiết kiệm cho dệt may 1,1 tỷ USD và kết thúc đàm phán thành công”.

Có thể thấy, TPP kết thúc đàm phán là nỗ lực của tất cả các bên tham gia, đặc biệt là vòng đàm phán cuối cùng tại Hawaii (Mỹ) với những thỏa thuận nói trên đạt được vào phút chót. Cảm xúc của ông Thái khi nói về TPP có lẽ cũng là cảm xúc của nhiều người đã từng tham gia đàm phán: “Với những người làm công tác hội nhập kinh tế quốc tế, trong năm 2015 có rất nhiều kỷ niệm, trong đó có những kết quả ghi dấu ấn chỉ đạo trực tiếp từ Chính phủ. Đây là những kỷ niệm chưa bao giờ trong đời được chứng kiến!”.
Trong các đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một thỏa thuận tự do thương mại giữa Mỹ và 11 đối tác thương mại khác giáp với Thái Bình Dương. TPP là giữa Brunei, Australia, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ, và Việt Nam chiếm đến chiếm 40% tổng sản lượng GDP toàn cầu (số liệu năm 2012). Nếu tính số liệu mới nhất năm 2014 thì 12 nước tham ra TPP tạo ra 45,20% sản lượng GDP của thế giới.

Mỹ, Nhật, Canada chiếm hết gần 40% sản lượng GDP thế giới


Trong đó có 3 nước gồm Mỹ, Nhật, Canada chiếm hết gần 40% sản lượng GDP thế giới, tức 3 nước này chiếm đến 38,4% sản lượng GDP toàn cầu. Đáng buồn, sản lượng kinh tế của VN năm 2014 chỉ tạo ra 186,20 tỷ đô la Mỹ, tức là chỉ chiếm 0,30% sản lượng GDP của thế giới.

Ta nhắc lại, thực tế hiên nay, chỉ có Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) đang lưu hành và áp dụng, hiện là khu vực mậu dịch tự do lớn nhất thế giới nó bao gồm 3 nước giữa Mỹ, Canada và Mexico với sản lượng GDP kinh tế hiện nay là 20.488,38 tỷ USD, tức chiếm 33,05% GDP của nền kinh tế thế giới.

Nếu khu vực thương mại TPP được hình thành có lẽ gần hết năm 2017, thì nó sẽ là lớn hơn so với các Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA).

Tuy nhiên, Mỹ cũng đang đàm phán Thương mại và Đầu tư Quan hệ đối tác xuyên Đại Tây Dương (TTIP) với Liên minh châu Âu – EU, quy tụ 28 thành viên, gồm: Áo, Bỉ, Bulgaria, Croatia, Cyprus, Cộng hòa Séc, Đan Mạch, Estonia, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Hungary, Ireland, Ý, Latvia, Lithuania, Luxembourg, Malta, Hà Lan, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Romania , Slovakia, Slovenia, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Vương quốc Anh với 508,2 triệu người vào năm 2014, với sản lượng kinh tế cao nhất địa cầu, nếu tính số liệu mới nhất trong năm 2014 thì sản lượng GDP của 28 nước Liên minh châu Âu đạt được là 18.460,60 tỷ USD, chiếm 29,78% sản lượng GDP của nền kinh tế thế giới, cộng thêm 318,86 triệu dân Mỹ nữa thì sức nặng thật đáng ngại, vì nó có số dân chiếm đến 827 triệu dân.. Nếu cộng sản lượng GDP của EU và Mỹ tạo ra trong năm 2014 lên đến 35.879,60 tỷ USD, tức chiếm đến 57,88% sản lượng GDP toàn cầu.

Nếu cả TPP và TTIP cùng ký thành luật và áp dụng ra thị trường thì rõ ràng “tam hùng” này xếp theo thứ tự: ngôi vị số 1 thuộc về TTIP, số 2 thuộc về TPP, và số 3 thuộc về NAFTA.

Trở về hồ sơ tam hùng của 3 nước trong TPP, gồm Mỹ, Nhật, Canada thì rõ ràng ta sẽ thấy 3 nước này nằm trong nhóm G-7, quy tụ 7 nước công nghiệp hóa hàng đầu của thế giới gồm: Anh, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Hoa Kỳ và Canada (Nga bị loại, trước đây là G-8, do Nga chiếm bán đảo Crimea của Ukraine, và kinh tế Nga từ hạng 8 nay rơi xuống vực chỉ xếp thứ hạng 11 các nền kinh tế lớn của thế giới).

Trong 3 nước này là thành viên Câu lạc bộ Paris gồm: Bỉ, Canada, Pháp, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Thụy Điển, Anh, Mỹ, Đức, cũng nằm trong Quyền rút vốn đặc biệt, viết tắt là SDRs được Quỹ Tiền tệ Quốc tế đặt ra năm 1969, thì đồng USD và đồng yên Nhật (JPY) nằm trong rổ tệ mạnh, ngoài đồng Bảng Anh (GBP), đồng EUR. Đối với Trung Quốc sắp tới thì muốn đem “tiền của người dân” (the money of the people), như đồng nhân dân tệ (RMB) vào Quyền rút vốn đặc biệt, viết tắt là SDRs.

Cũng trong tam cường Mỹ, Nhật, Canada này thì cả ba nước đều có đồng bạc nằm trong rổ tiền để tính ra giá trị của đồng USD qua chỉ số gọi là (USDX, DXY) gồm 6 loại tiền thông dụng là đồng EUR, yên Nhật (JPY), Bảng Anh (GBP), đồng đô la Canada (CAD), Krona Thụy Điển (SEK), Franc Thụy Sĩ (CHF). Đây là lĩnh vực rất chuyên môn về tài chính để tính toán lời lỗ trong kinh doanh, qua việc có thể trao đổi song phương bằng đồng tiền của từng đối tác để hạn chế rủi ro về tỷ giá.

Qua đó nó cho thấy sức nặng quá lớn của tam cường có nền kinh tế và khoa học hiện đại nhất hành tinh, như Mỹ, Nhật chẳng hạn. Việt Nam chỉ là một nước chậm tiến với sản lượng kinh tế quá ít ỏi nên không có bất cứ trọng lượng nào cả.

Đối với Mỹ, hãy thận trọng, tuy Mỹ xuất khẩu chỉ chiếm 13% của GDP, nhưng Mỹ lại là nước xuất khẩu lớn thứ ba của thế giới sau Trung Quốc và khối kinh tế 28 nước EU cộng lại. Cụ thể, trong năm 2014, Mỹ xuất khẩu hàng hóa của Mỹ 1.621 tỷ USD. Trong khi TQ xuất khẩu được 2.343 tỷ USD hàng hóa, khối kinh tế EU xuất khẩu được là 2.173 tỷ USD. Điều đó cho thấy VN đừng hồ hởi sảng mà dễ dàng cạnh tranh được hàng hóa Mỹ. Về nhập khẩu, Mỹ lại là nước nhập khẩu lớn thứ hai trên thế giới.

Hãy cảnh giác, tuy xuất khẩu nông nghiệp của Mỹ chỉ chiếm chỉ 1,5% của GDP, nhưng do sử dụng công nghệ tiên tiến, Mỹ lại là một nước xuất khẩu ròng lương thực rất lớn. Chẳng hạn, trong quý thứ hai của năm 2015, GDP từ nông nghiệp tạo ra lên đến 191,10 tỷ USD. Chỉ cần có một quý thôi đã tạo ra sản lượng GDP lớn hơn sản lượng GDP của Việt Nam tạo ra trong năm 2014 chỉ có 186,20 tỷ USD. Trong quý đầu tiên của năm 2013, GDP từ nông nghiệp của Mỹ lên đến 235,10 USD tỷ USD,…

Đối với Canada, VN hết sức thận trọng về lĩnh vực nông nghiệp, mặc dù nông nghiệp, lâm nghiệp, đánh cá và săn bắn chỉ chiếm 2% sản lượng GDP của Canada, nhưng hãy nhớ rằng Canada lại là quốc gia xuất khẩu ròng về lĩnh vực nông nghiệp lớn nhất thế giới bởi các sản phẩm nông nghiệp. Thật bất hạnh cho VN, nếu không tỉnh táo cải tiến năng suất, giảm thuế, tự chủ về thức ăn cho chăn nuôi, hay các lĩnh vực khác thì chắc chắn lĩnh vực nông nghiệp tại VN sẽ bị xóa sổ bởi TPP chỉ cần hai nước này thôi.

Đối với Nhật thì rõ ràng không cần phân tích gì nhiều thì tất cả người VN đều biết sản phẩm của Nhật. Tuy nhiên, Nhật là nước nhập khẩu lương thực rất lớn, tất nhiên phải là những sản phẩm đáp ứng theo tiêu chuẩn khắt khe của Nhật, những trò gian dối dùng thuốc tăng trưởng hay chất kích thích sẽ không bao giờ qua mắt được Nhật.

Hãy thận trọng, Nhật là nước xuất khẩu rất lớn thứ 3 trên thế giới xếp sau Trung Quốc và Đức, với kim ngạch xuất khẩu chiếm gần một phần ba sản lượng GDP kinh tế của Nhật trong lĩnh vực xuất khẩu. Tuy nhiên, thật may mắn, lĩnh vực xuất cảng của Nhật ít trùng khớp với các mặt hàng xuất cảng của VN.

Nói riêng về VN, trong 12 nước tham gia TPP thì VN có sản lượng GDP thấp nhất chỉ xếp trên Vương quốc Brunei (tuy nhiên Brunei là nước nhỏ, nhưng rất giàu có).

Nói chung, khi phát triển kinh tế bằng hội nhập quốc tế, thì VN cũng phải tính toán bền vững về dài, bởi lẽ lợi thế nhân công rẻ không bao giờ là mãi mãi nếu VN muốn đòi hỏi trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 – 2040. Tuy trước mắt VN cần thu hút đầu tư nước ngoài bằng đồng lương thấp để tích lũy tư bản tài chính để nhằm nâng đồng lương cho công nhân cao hơn sau này. Thực tế, khi VN gia nhập TPP thì về dài hạn phải đổi mới bằng năng suất lao động cao hơn, vì lương thấp sẽ hết là hấp dẫn giới đầu tư khi VN đã là tư cách một nước công nghiệp (vì VN muốn vậy). Điều đó nôm na là VN không phải là nước làm gia công cho thiên hạ nữa nếu muốn “hóa Rồng”.

Muốn thế thì phải nghĩ đến việc cải tiến cao hơn để làm ra mặt hàng có giá trị kinh tế hơn, việc này đòi hỏi nhân công phải có tay nghề và kỹ thuật cao hơn, điều đó phải có yếu tố nền giáo dục có phẩm chất.

Thực tế, để tăng sản phẩm suất siêu có phẩm chất thì VN cần phải nâng cao tối đa tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm, tất nhiên, đội ngũ nhân công phải được đào tạo tốt, bởi lẽ VN có đủ điều kiện làm việc này vì có nhiều tài nguyên khoáng sản, con người thông minh, nhưng đáng tiếc là những sản phẩm tạo ra đều là mặt hàng thô không có lời nên kém hấp dẫn các đại công ty Mỹ, hay EU và Nhật để họ nhập hàng vì nhiều lý do, như ít sáng tạo vì hệ thống đào tạo đại học và sau tại VN là quá lạc hậu.

FB: Phương Thơ, Morgan Stanley (NYSE: MS)
Theo TS. Trần Hữu Huỳnh – Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) mang lại cơ hội đối với doanh nghiệp có khả năng liên kết đối tác đầu tư nhưng sẽ là bất lợi đối với 3 nhóm doanh nghiệp.


Những doanh nghiệp gặp khó

Theo ông Trần Hữu Huỳnh, khi tham gia TPP, hàng rào thuế quan của chúng ta sẽ phải giảm để hàng hóa của 11 nước thành viên khác có điều kiện xâm nhập thị trường Việt Nam. Do đó những doanh nghiệp nào trước đây được hưởng ưu đãi từ Nhà nước như DNNN hay doanh nghiệp sản xuất nhưng hiện giờ những ưu đãi đấy nằm trong diện TPP cấm sẽ là nhóm doanh nghiệp gặp khó khăn đầu tiên.

Nhóm doanh nghiệp gặp khó thứ 2 theo ông Huỳnh là những ngành liên quan đến nông nghiệp. Đây là những lĩnh vực mà việc giảm thuế sẽ khiến hàng hóa nước ngoài tràn vào cạnh tranh trực tiếp khiến đối tượng này bị tổn thương nhiều nhất như các ngành chăn nuôi, rau quả.

Nhóm thứ 3 là những ngành hàng bị ràng buộc bởi sở hữu trí tuệ hay liên quan đến môi trường cũng sẽ gặp phải khó khăn bởi TPP là một hiệp định đòi hỏi những thành viên phải mở cửa thương mại sâu rộng.

Nếu nhìn từ góc độ thị trường dịch vụ, những doanh nghiệp nhỏ làm ăn kiểu cò con hay doanh nghiệp quy mô gia đình cũng sẽ gặp khó khăn hơn vì TPP mở cửa không đơn thuần là hàng hóa mà còn là dịch vụ, đầu tư nên những đối tượng trên thị trường nội địa sẽ gặp nhiều thách thức.

Đối với hàng hóa xuất khẩu nói chung sẽ có nhiều thuận lợi, nếu gặp khó khăn chủ yếu là hàng rào kỹ thuật và phòng vệ thương mại.

Cơ hội và giải pháp

Bên cạnh những doanh nghiệp gặp khó nêu trên, theo ông Huỳnh, TPP còn mở nhiều cơ hội đối với doanh nghiệp sản xuất mặt hàng có khả năng cạnh tranh với thị trường 11 nước còn lại. TPP cũng mang lại cơ hội đối với doanh nghiệp có khả năng liên kết với đối tác đầu tư từ các thành viên TPP.

TPP cũng mở ra nhiều cơ hội đối với những ngành như dệt may, giầy dép, điện tử. Những ngành này sẽ là thế mạnh giúp Việt Nam khẳng định được vị trí trong những quốc gia tham gia TPP bởi đây là những mặt hàng phần lớn các nước trong TPP không sản xuất nên không cạnh tranh trực tiếp với hàng Việt Nam.

Do đó, ông Huỳnh cho rằng, đối với nhóm doanh nghiệp sản xuất mặt hàng, cần tìm hiểu thị trường, nắm rõ thế mạnh mặt hàng truyền thống là gì để chuyển đổi. Với nhóm doanh nghiệp có khả năng liên kết với đối tác đầu tư, việc liên kết trên thị trường nội địa rõ ràng sẽ nâng cơ hội cạnh tranh của doanh nghiệp lên nếu hàng hóa của doanh nghiệp có sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư TPP.

Ông Huỳnh cũng lưu ý đối với vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong TPP. Theo ông Huỳnh, chúng ta đã có một khung khổ pháp luật về sở hữu trí tuệ tương đối tương thích với thế giới nhưng việc thực thi còn nhiều vấn đề.

Bên cạnh đó, những quy định chung về sở hữu trí tuệ hiện đã ở mức độ cao nhưng yêu cầu trong TPP còn cao hơn, cụ thể ở chế tài về tịch thu, xử lý thiệt hại bao gồm xử lý hành chính, kiện tụng và các biện pháp hình sự…Do đó, việc chúng ta thực hiện các cam kết sở hữu trí tuệ cũng có nghĩa làm cho doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh lên. Đó là tinh thần cơ bản của TPP mà những hiệp định thương mại khác chưa đạt được.

Nguồn: Diễn Đàn Doanh Nghiệp

Ngày 26/1/2015, các nước thành viên TPP đã công bố bản toàn văn chính thức của Hiệp định.
Ngày 4/2/2016, Hiệp định TPP đã được chính thức ký kết tại New Zealand.
Dưới đây là nội dung chi tiết Toàn văn Hiệp định TPP (bản chính thức) bằng tiếng Anh và bằng tiếng Việt cùng với các Bản Tóm tắt nội dung các Chương Hiệp định của Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) và Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia (DFAT) bằng tiếng Anh và Bộ Công Thương Việt Nam (MOIT) bằng tiếng Việt.
Nội dung Hiệp định:
Lời mở đầu (Tiếng Anh) (Tiếng Việt
Chương 1: Các điều khoản và định nghĩa chung (Tiếng Anh(Tiếng Việt
Bản tóm tắt chương của USTR | DFAT 
Chương 2: Đối xử quốc gia và mở cửa thị trường đối với hàng hóa (Tiếng Anh(Tiếng Việt
Bản tóm tắt chương của USTR DFAT 
Phụ lục 2-D: Lộ trình cắt giảm thuế
Chương 3: Quy tắc xuất xứ và các thủ tục chứng nhận xuất xứ (Tiếng Anh(Tiếng Việt
Bản tóm tắt chương của USTR | MOIT DFAT
  • Phụ lục 3-D: Quy tức xuất xứ cụ thể mặt hàng (Tiếng Anh) (Tiếng Việt)
  • Phụ lục 3-D: Tiểu phụ lục 1 - Các điều khoản liên quan đến Quy tắc xuất xứ cụ thể cho phương tiện và bộ phận của phương tiện (Tiếng Anh(Tiếng Việt)
Chương 4: Dệt may (Tiếng Anh(Tiếng Việt
 Bản tóm tắt chương của USTR | MOIT | DFAT
Chương 5: Hải quan (Tiếng Anh(Tiếng Việt
Bản tóm tắt chương của USTR DFAT
Chương 6: Phòng vệ Thương mại (Tiếng Anh(Tiếng Việt
 Bản tóm tắt chương của USTR MOIT  DFAT
Chương 7: Các biện pháp an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (Tiếng Anh) (Tiếng Việt
Bản tóm tắt chương của USTR DFAT
Chương 8: Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (Tiếng Anh(Tiếng Việt)  
Bản tóm tắt chương của USTR DFAT
Chương 9: Đầu tư (Tiếng Anh(Tiếng Việt
Bản tóm tắt chương của USTR DFAT
Chương 10: Thương mại dịch vụ xuyên biên giới (Tiếng Anh(Tiếng Việt
 Bản tóm tắt chương của USTR DFAT
Chương 11: Dịch vụ Tài chính (Tiếng Anh(Tiếng Việt
Bản tóm tắt chương của USTR DFAT
Chương 12: Nhập cảnh tạm thời cho khách kinh doanh (Tiếng Anh)(Tiếng Việt
Bản tóm tắt chương của USTR DFAT
Phụ lục 12-A: Nhập cảnh tạm thời
Chương 13: Viễn thông  (Tiếng Anh(Tiếng Việt)
Bản tóm tắt chương của USTR DFAT
Chương 14: Thương mại điện tử  (Tiếng Anh) (Tiếng Việt)
Bản tóm tắt chương của USTR DFAT
Chương 15: Mua sắm Chính phủ  (Tiếng Anh(Tiếng Việt)
Bản tóm tắt chương của USTR DFAT
​​Phụ lục 15-A: Mua sắm Chính phủ
Chương 16: Cạnh tranh  (Tiếng Anh(Tiếng Việt)
Bản tóm tắt chương của USTR |MOIT |DFAT
Chương 17: Doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước và độc quyền chỉ định  (Tiếng Anh(Tiếng Việt)
Bản tóm tắt chương của USTR |MOIT DFAT
Chương 18: Sở hữu trí tuệ  (Tiếng Anh(Tiếng Việt
Bản tóm tắt chương của USTR DFAT
Chương 19: Lao động (Tiếng Anh(Tiếng Việt
Bản tóm tắt chương của USTR | MOIT DFAT
Chương 20: Môi trường (Tiếng Anh(Tiếng Việt
Bản tóm tắt chương của USTR | MOIT | DFAT
Chương 21: Hợp tác và nâng cao năng lực  (Tiếng Anh(Tiếng Việt)
Bản tóm tắt chương của  USTR DFAT
Chương 22: Nâng cao sức cạnh tranh và Thuận lợi hóa hoạt động kinh doanh (Tiếng Anh) (Tiếng Việt
Bản tóm tắt chương của USTR DFAT
Chương 23: Phát triển (Tiếng Anh(Tiếng Việt
Bản tóm tắt chương của USTR DFAT
Chương 24: Doanh nghiệp vừa và nhỏ (Tiếng Anh(Tiếng Việt
Bản tóm tắt chương của USTR DFAT
Chương 25: Hội tụ phương pháp hoạch định chính sách thương mại (Tiếng Anh (Tiếng Việt
Bản tóm tắt chương của  USTR DFAT
Chương 26: Minh bạch hóa và chống tham nhũng (Tiếng Việt) (Tiếng Anh
Bản tóm tắt chương của  USTR DFAT
Chương 27: Các điều khoản hành chính và thể chế (Tiếng Anh)(Tiếng Việt
Bản tóm tắt chương của  USTR DFAT
Chương 28: Giải quyết tranh chấp (Tiếng Anh(Tiếng Việt
Bản tóm tắt chương của USTR DFAT
Chương 29: Các ngoại lệ và các điều khoản chung (Tiếng Anh(Tiếng Việt
Bản tóm tắt chương của USTR DFAT
Chương 30: Các điều khoản cuối cùng (Tiếng Anh(Tiếng Việt
Bản tóm tắt chương của USTR DFAT

PHỤ LỤC
Phụ lục I: Non-Conforming Measures:
Phụ lục II: Non-Conforming Measures:
Phụ lục III: Dịch vụ tài chính
Phụ lục IV: Doanh nghiệp nhà nước

Ngoài các cam kết chính trong văn bản Hiệp định, các bên còn xây dựng các Thư song phương nhằm làm rõ hơn một số nội dung cam kết hoặc thổng nhất cách hiểu về một số nội dung cam kết trong Hiệp định. Dưới đây là các Thư song phương của Việt Nam với một số đối tác TPP:
Thư song phương giữa Việt Nam và một số đối tác TPP: 
Australia
Brunei Darussalam
Canada
Chile
Japan
Malaysia
Mexico
New Zealand
Peru
Singapore
United States
Nguồn: www.trungtamwto.vn